Việt Nam Sử Lược - Giặc giã ở trong nước
30.03.2008 15:53
Vua Dực-tông vốn là ông vua có lòng chăm-chỉ về việc trị dân, ngay từ năm canh-tuất (1850), là năm Tự-đức thứ 3, ngài đã sai ông Nguyễn Tri Phương làm Kinh-lược đại-sứ 6 tỉnh Nam- kỳ; ông Phan Thanh Giản làm Kinh-lược đại-sứ Bình-định, Phú-yên, Khánh- hòa và Bình-thuận
CHƯƠNG VIII
Giặc giã ở trong nước
1. Việc rối-loạn trong nước
2. Giặc Tam-đường
3. Giặc châu-chấu
4. Giặc tên Phụng
5. Sự phản-nghịch ở Kinh-thành
6. Giặc Khách ở Bắc-kỳ
1. Việc rối-loạn trong nước.
Vua
Dực-tông vốn là ông vua có
lòng chăm-chỉ về việc trị dân, ngay từ năm canh-tuất (1850), là năm Tự-đức
thứ 3, ngài đã sai ông Nguyễn Tri Phương làm Kinh-lược đại-sứ 6 tỉnh Nam-
kỳ; ông Phan Thanh Giản làm Kinh-lược đại-sứ Bình-định, Phú-yên, Khánh-
hòa và Bình-thuận; Ông Nguyễn
Đăng Giai làm Kinh-lược
đại-sứ
Hà
tĩnh,
Nghệ An và Thanh-hóa. Các ông ấy đi khám-xét công việc các quan-lại và
sự làm ăn của dân gian, có điều gì hay dở phải sớ tâu về cho vua biết.
Tuy
vậy mặc lòng, không có đời nào lắm giặc giã bằng đời ngài làm
vua. Chỉ được vài ba năm đầu thì còn có hơi yên trị, còn từ năm tân hợi
(1851) là năm Tự Đức thứ 4 trở đi, thì càng ngày càng nhiều giặc. Mà nhất
là đất Bắc-kỳ là có nhiều giặc hơn cả, bởi vì đất Bắc-kỳ là đất của nhà Lê cũ,
dân tình cũng có nhiều người tưởng nhớ đến tiền triều, nên chỉ những người
muốn làm loạn, hoặc tự nhận là giòng dõi nhà Lê, hoặc tìm một người nào
giả nhận dòng dõi nhà Lê, rồi tôn lên làm minh chủ để lấy cớ mà khởi sự.
Lại nhân lúc bấy giờ bên Tàu có giặc Thái-bình nổi lên đánh nhà
Thanh, đến khi giặc ấy tan thì dư đảng chạy tràn sang nước ta cướp phá ở
mạn thượng du. Nào giặc khách, nào giặc ta, quan quân cứ phải đi đánh
dẹp luôn. ở trong nước thì thỉnh thoảng lại có tai biến, như nước lụt, đê vỡ,
v. v. Ở Hưng-yên, đê Văn-giang vỡ 18 năm liền, cả huyện Văn-giang thành
bãi cát bỏ hoang, dân gian đói khổ, nghề nghiệp không có, cho nên người đi
làm giặc càng ngày càng nhiều vậy.
2. Giặc Tam-đường.
Năm Tân hợi (1851) là năm Tự Đức thứ 4, có
giặc khách là bọn Quảng nghĩa Đường, Lục thắng Đường, Đức thắng đường,
v. v... tục gọi là giặc Tam-đường, quấy nhiễu
ở
mặt Thái-nguyên, vua sai
ông Nguyễn đăng Giai ra kinh lược Bắc-kỳ. Ông ấy dùng cách khôn khéo dụ
được chúng nó về hàng. Bởi vậy trong hạt lại được yên một độ. Nhưng đến
cuối năm giáp dần (1854) là năm Tự Đức thứ 7, Nguyễn đăng Giai mất, đất
Bắc-kỳ lại có loạn.
3. Giặc châu-chấu.
Năm Tự
Đức thứ 7 (1854), ở
tỉnh Sơn-tây có
một bọn người đem Lê duy Cự là dòng dõi nhà Lê ra lập lên làm minh chủ để
khởi sự
đánh nhà Nguyễn. Lúc bấy giờ có Cao bá Quát, người làng Phú-
thụy, huyện Gia-lâm, tỉnh Bắc-ninh, thi đỗ cử nhân, ra làm quan, được bổ
chức giáo-thụ phủ Quốc-oai (Sơn tây). Cao bá Quát có tiếng là người văn-
học giỏi ở Bắc-kỳ, mà cứ bị quan trên đè nén, cho nên bức chí, bỏ quan về
đi dạy học, rồi theo bọn ấy xưng là quốc sư để dấy loạn ở vùng Sơn-tây và
Hà-nội. Tháng chạp năm ấy quan phó Lĩnh-binh tỉnh Sơn-tây là Lê Thuận đi
đánh bắt được Cao bá Quát đem về chém tại làng.
Nhân vì mùa tháng năm ấy ở vùng tỉnh Bắc-ninh và Sơn-tây có nhiều
châu-chấu ra phá hại mất cả mùa màng, rồi đến cuối năm lại có giặc ấy, cho
nên người thời bấy giờ gọi là giặc châu-chấu.
Cao bá Quát chết đi rồi, Lê duy Cự còn quấy rối đến mấy năm sau
mới dẹp yên được. Từ
đó trở
đi, không năm nào là năm không có giặc,
nhưng kiệt-hiệt hơn cả là có giặc tên Phụng và giặc Khách ở mạn Thượng-
du.
4. Giặc tên Phụng.
Năm tân dậu (1861), quân nước Pháp và nước I-
pha-nho sang đánh Quảng-nam, có mấy người ở Bắc-kỳ theo vào làm lính
mộ. Trong ấy có tên Tạ văn Phụng, trước đã theo giáo-sĩ ra ngoại-quốc đi
học đạo, sau lại theo trung tướng Charner về đánh Quảng-nam.
Đến tháng chạp thì tên Phụng ra Bắc-kỳ, mạo xưng là Lê duy Minh
dòng dõi nhà Lê, rồi tự xưng là minh-chủ, cùng với một người đạo-trưởng
tên là Trường làm mưu-chủ, và tên Ước, tên Độ
dấy binh ở Quảng-yên.
Đảng tên Phụng
đem quân giặc Khách ở ngoài bể vào đánh lấy phủ
Hải-
ninh, rồi lại thông với giặc Khách và giặc ta ở các tỉnh, để làm loạn ở Bắc-Kỳ.
Tháng ba năm nhâm-tuất (1862), ở Bắc-ninh có tên cai-tổng Nguyễn
văn Thịnh (tục gọi là cai tổng Vàng) xưng làm nguyên-súy, lập tên Uẩn mạo
xưng là con cháu nhà Lê, lên làm minh-chủ, rồi nhập đảng với tên Phụng,
đem binh đi đánh phủ Lạng-giang, huyện Yên-dũng, và vây thành Bắc-ninh.
Bấy giờ quan bố chính ở Hà-nội là Nguyễn khắc Thuật, quan bố-
chính tỉnh Sơn-tây là Lê Dụ và quan phó lĩnh-binh tỉnh Hưng-yên là Vũ Tảo
đem quân ba tỉnh về
đánh giải vây cho tỉnh Bắc. Vũ
Tảo
đánh nhau với
quân giặc hơn 10 trận mới phá được quân giặc.
Phía
đông thì tên Phụng vây thành Hải-dương, tỉnh-thần dâng sớ
cáo-cấp. Triều đình bèn sai quan Thượng-thư bộ Hình là Trương quốc Dụng
ra làm tổng-thống Hải-an 163 quân-vụ, cùng với Phan tam Tỉnh, Đặng Hạnh,
Lê Xuân, đem quân Kinh và quân Than, Nghệ ra tiến-tiễu. Lại sai Đào Trí
làm tham-tán đại-thần, Nguyễn bá Nghi làm Sơn-Hưng-Tuyên164 tổng-đốc,
để cùng với Trương quốc Dụng đánh giặc ở Bắc-kỳ.
Lúc
ấy, tỉnh Thái Nguyên thì có giặc Nông và giặc Khách đánh phá,
tỉnh Tuyên Quang thì có bọn tên Uẩn, tên Nông hùng Thạc quấy nhiễu, tỉnh
Cao-bằng thì bị tên Giặc Khách Lý hợp Thắng vây đánh, tỉnh Bắc-ninh thì có
cai tổng Vàng cướp phá, các quan to la rối cả lên. Vua Dực-tông sai Nguyễn
tri Phương ra làm tây-bắc-tổng-thống quân-vụ đại-thần, cùng với Phan đình
Tuyển và Tôn thất Tuệ ra đánh mặt Bắc-ninh, Thái-nguyên và Tuyên-quang.
Tháng 3 năm quí-hợi (1863) Vũ Tảo đánh lấy lại thành Tuyên-quang
và bắt
được tên Uẩn
đóng củi giải về trị
tội. Qua tháng 4, Nguyễn tri
Phương dẹp xong giặc ở Bắc-ninh, rồi đem binh lấy lại thành Thái-nguyên,
bắt được tên Thanh, tên Đắc, tên Vân và lại phá được sào huyệt của giặc ở
núi Ma-hiên, thuộc châu Bạch-thông.
Còn
ở mặt Hải-dương và Quảng-yên, thì tuy Trương quốc Dụng và
Đào Trí đã giải được vây cho thành hải-dương, nhưng thế quân giặc ở mặt
bể còn mạnh lắm. Vua Dực-tông lại sai Nguyễn tri Phương làm tổng-thống
hải-an quân-vụ, Trương quốc Dụng làm hiệp-thống đem quân ra đánh mặt
ấy.
Lúc
bấy giờ
bọn tên Phụng có sai người vào cầu viện quan thiếu-
tướng Bonard ở trong Nam-kỳ, ước hễ lấy được Bắc-kỳ thì xin để nước Pháp
bảo-hộ. Nhưng vì trong Nam-kỳ còn lắm việc, mà sự giảng hòa với Triều-
đình ở Huế đã sắp xong, cho nên thiếu-tướng không nhận. Đảng tên Phụng
vẫn chiếm giữ đất Quảng-yên và những đảo ở ngoài bể, để làm sào huyệt,
Cuối năm quí-hợi (1863) là năm Tự-đức thứ 16, quân giặc họp hơn
500 chiếc thuyền ở đảo Các-bà và ở núi Đồ-sơn, có ý muốn đem quân vào
đánh đất Kinh-kỳ, nhưng chẳng may phải bão, thuyền đắm mất nhiều. Quan
đề-đốc là Lê quang Tiến và quan bộ-phủ Bùi huy Phan được tin ấy liền đem
quân ra đánh, bị quân giặc tập hậu, quan quân bỏ chạy. Lê quang Tiến và
Bùi huy Phan phải nhảy xuống biển tự tận.
Đến tháng 6 năm giáp-tí (1864) là năm Tự-đức thứ 17, quan hiệp-
thống Trương quốc Dụng, quan tán-lý Văn đức Khuê, quan tán-tương Trần
huy Sách và quan chưởng-vệ Hồ Thiện đánh nhau với giặc ở đất Quảng-yên,
bị giặc giết cả. Trận ấy quan quân thua to, quân-sĩ thiệt hại rất nhiều.
Tháng 4 năm ất-sửu (1865), quân giặc đem 300 chiếc thuyền phân
ra làm 3 đạo vào cướp ở mạn Hải-dương. Nguyễn tri Phương sai Nguyễn văn
VĨ đem quân ra đón đánh, bắt và chém được rất nhiều. Từ đó quan đề-đốc
Mai Thiện quan tán-lý Đặng trần Chuyên, quan đốc-binh Ông ích Khiêm phá
được quân giặc hơn 10 trận, quân giặc lui về giữ mặt Hải-ninh.
Tháng 7 năm ấy, Nguyễn tri Phương sai Đặng trần Chuyên, Ông ích
Khiêm
đem binh ra Quảng-yên,
ước với quan nhà Thanh ở Khâm-châu để
đánh lấy lại thành Hải-ninh. Quân giặc thua to, đem hơn 70 chiếc thuyền
chạy ra bể. Quan quân đem binh thuyền ra đuổi đánh, tên Phụng, tên Ước
thì chạy vào mạn Quảng-bình, Quảng-trị, còn những đồ đảng, đứa thì phải
bắt, đưa thì chạy trốn được. Sau tên Phụng, tên Ước cũng bị bắt đem về trị
tội ở Huế.
Giặc Phụng khởi từ cuối năm tân-dậu (1861) đến cuối năm ất-sửu
(1865) mới dẹp xong, kể vừa 4 năm trời, nhà nước tổn hại rất nhiều. Khi
giặc Phụng
ở Quảng-yên dẹp gần xong, thì ở
mạn Cao-bằng
đã có giặc
Khách đánh lấy tỉnh-thành. Quan kinh-lược Võ trọng Bình và quan tuần-phủ
Phạm chi Hương
đem binh lên Lạng-sơn rồi chia quân đi đánh các nơi, từ
tháng 9 năm ất-sửu (1865) cho đến tháng 3 năm bính-dần (1866), thì tướng
giặc là Trương cận Bang mới xin về hàng, và mới thu phục lại được thành
Cao-bằng.
Nguyễn tri Phương và Võ trọng Bình về Kinh coi việc triều-chính.
5. Sự phản-nghịch
ở Kinh-thành.
Việc ngoài Bắc mới hơi
nguôi-nguôi, thì Kinh-đô lại có việc làm cho náo động lòng người.
Nguyên
vua
Dực-tông là con thứ mà được nối ngôi, là vì người anh
ngài là Hồng Bảo phóng đãng, không chịu học hành cho nên không được
lập. Ông ấy lấy điều đó làm tức giận, bèn đồ-mưu với một nước ngoại quốc
để tranh ngôi vua. Chẳng may sự lộ ra, ông ấy phải bỏ ngục, rồi uống thuốc
độc mà chết. Còn con ông thì được tha mà phải đổi tên là Đinh Đạo
Đến năm bính dần (1866) là năm Tự-đức thứ 19, nhà vua đang xây
Vạn-niên-cơ
tức là Khiêm-lăng bây giờ, quân-sĩ phải làm lụng khổ
sở, có
nhiều người oán giận. Bấy giờ ở Kinh có Đoàn Trưng cùng vơi em là Đoàn
hữu Ái, Đoàn tư Trực, và bọn Trương trọng Hòa, Phạm Lương kết làm " Sơn-
đông-thi-tửu-hộ" để mưu việc lập Đinh Đạo lên làm vua. Bọn tên Trưng mới
chiêu dụ những lính làm làm ở Vạn-niên-cơ và cùng với qua hữu-quân Tôn
thất Cúc làm nội ứng, định ngày khởi sự.
Đến đêm hôm mồng 8 tháng 8, bọn tên Trưng đem quân vào cửa
tả-dịch, chực xông vào điện giết vua Dực-tông. May nhờ có quan chưởng-vệ
là Hồ Oai đóng được cửa điện lại, hô quân bắt được tên Trưng, tên Trực và
cả bọn đồng đảng.
Đinh Đạo phải tội giảo, Tôn thất Cúc thì tự vẫn chết, còn các quan
có trách nhiệm đều phải chiếu tội nặng nhẹ, hoặc phải cách.
Lúc
ấy ngoài thì có giặc cướp phá, trong thì có nghịch-thần làm loạn.
Ở mặt Quảng-nghĩa lại có giặc mọi Đá-vách cứ hay xuống quấy nhiễu dân-
gian, may nhờ có quan tiểu-phủ Nguyễn Tấn ra sức đánh dẹp mới yên được.
Việc giao thiệp với nước Pháp càng ngày càng khó. Ở
Bắc-kỳ thì có giặc
Khách một ngày một mạnh, đến nỗi quan quân đánh không được, phải nhờ
quân Tàu sang dẹp hộ. Triều-đình cũng bối rối không biết tính ra thế nào
cho khỏi được sự biến loạn.
6. Giặc Khách ở Bắc-kỳ.
Bên Tàu lúc bấy giờ cũng loạn: ngoài thì
đánh nhau với nước Anh-cát-lợi và nước Pháp-lan-tây. Triều đình phải bỏ
Kinh-đô mà chạy; trong thì có giặc Thái-bình nổi lên đánh phá, tí nữa ngôi
vua nhà Thanh cũng đổ nát.
Nguyên
từ năm Đạo-quang thứ 29, là năm kỷ-dậu (1849), tức là bên
ta năm Tự-đức thứ 2, ở Quảng-tây có tên Hồng tú Toàn cùng với bọn Dương
tú Thanh, Tiêu triều Quí, Lý tú Thành, nổi lên xưng là Thái-bình thiên-quốc,
rồi chiếm cứ
đất Kim-lăng và các tỉnh phía nam sông Trường-giang. May
nhờ có bọn Tăng quốc Phiên, Tả tôn Đường, Lý hồng Chương, hết sức đánh
dẹp, và lại có thế lực ngoại quốc tư giúp, cho đến năm Đồng-trị thứ hai là
năm quí-hợi (1863) tức là bên ta năm Tự-đức thứ 16, quan nhà Thanh mới
bắt
được các tướng Thái-bình, Hồng tú Toàn phải uống thuốc
độc tự
tử,
triều đình nhà Thanh lại thu phục được các tỉnh phía nam nước Tàu.
Lúc
ấy có dư đảng của Hồng tú Toàn là bọn Ngô Côn chạy tràn sang
nước ta, trước còn nói xin hàng, rồi sau đem quân đi cướp phá các tỉnh,
quan quân đánh mãi không được. Năm mậu-thìn (1868) là năm Tự-đức thứ
21, Ngô Côn chiếm giữ tỉnh thành Cao-bằng. Triều-đình sai quan tổng-đốc
Phạm chi Hương viết thư sang cho quan nhà Thanh để xin quân Tàu sang
tiểu-trừ. Nhà Thanh sai phó-tướng Tạ kế Quí đem quân sang cùng với quan
tiểu-phủ Ông ích Khiêm và quan đề-đốc Nguyễn viết Thành, đánh phá quân
của Ngô Côn ở Thất-khê. Nhưng đến tháng 7 năm ấy, quân ta đánh thua ở
Lạng-sơn, quan tham-tán Nguyễn Lệ, quan phó đề-đốc Nguyễn viết Thành
tử trận, quan thống-đốc Phạm chi Hương bị bắt.
Triều-đình sai Võ trọng Bình ra làm Hà-ninh tổng-đốc kiêm chức
Tuyên-Thái-Lạng quân-thứ khâm-sai đại-thần,
để
hội với quan đề-đốc tỉnh
Quảng-tây là Phùng tử Tài mà đánh giặc Ngô Côn.
Quân hai nước cùng đồng sức
đánh dẹp,
đến tháng 5 năm kỷ-tị
(1869) thì mới khôi phục lại được tỉnh-thành Cao-bằng. Đến cuối năm canh-
ngọ (1870), Ngô Côn đem quân vây đánh tỉnh-thành Bắc-ninh, quan tiểu-
phủ Ông ích Khiêm đánh một trận bắn chết Ngô Côn và phá tan quân giặc.
Ngô Côn tuy chết, song còn có những đồ-đảng là Hoàng sùng Anh,
hiệu cờ vàng, Lưu vĩnh Phúc, hiệu cờ đen, Bàn văn Nhị, Lương văn Lợi, hiệu
cờ trắng, vẫn cứ quấy-nhiễu ở mạn Tuyên-quang, Thái-nguyên, quan quân
phải hết sức chống giữ thật là vất vả. Triều-đình sai quan trung-quân Đoàn
Thọ ra làm tổng-thống quân-vụ ở Bắc-kỳ.
Đoàn Thọ
vừa mới ra, kéo quân lên đóng
ở
tỉnh-thành Lạng-sơn,
bọn giặc Khách là Tô Tứ nổi lên, nửa đêm vào lấy thành, bắt ông ấy giết đi,
còn Võ trọng Bình thì vượt thành chạy thoát được.
Tin
ấy vào đến Huế, Triều-đình vội vàng sai Hoàng kế Viêm 165 ra làm
Lạng-Bình-Ninh-Thái thống-đốc quân-vụ đại thần, cùng với quan tán-tương
Tôn thất Thuyết đi dẹp giặc ở Bắc-kỳ. Qua tháng tư năm sau (1871), nhà
vua lại sai quan Hình-bộ thượng-thư là Lê Tuấn làm chức Khâm-sai thị-sự để
cùng với ông Hoàng kế Viêm lo việc đánh dẹp.
Tháng 11 năm tân-mùi (1871), ở Quảng-yên lại có tên Hoàng Tề nổi
lên, thông với giặc Tô Tứ và giặc Tàu-ô ở ngoài bể, rồi đem binh thuyền đi
cướp phá các nơi. Hoàng kế Viêm giữ
mạn Sơn-tây, Lê Tuấn ra cùng với
tỉnh thần Hải-dương đem quân đi đánh giặc Tề. Được ít lâu, quân thứ-tỉnh
Hải-dương bắn chết tên Tề ở huyện Thanh-lâm, dư-đảng giặc ấy đều tan cả.
Ở mạn thượng-du thì đảng cờ đen là bọn Lưu vĩnh Phúc và đảng cờ vàng là
bọn Hoàng sùng Anh quấy-nhiễu ở đất Tuyên-quang. Bao nhiêu thuế má ở
mạn ấy, chúng thu cả, sau hai đảng ấy lại thù-khích nhau, đánh phá nhau
thật là tàn-hại,
đảng cờ
đen về hàng với quan ta, nhà vua bèn dùng Lưu
vĩnh Phúc cho đất ở Lao-kay, được thu cả quyền lợi ở chỗ ấy, để chống giữ
với đảng cờ vàng, đóng ở mạn Hà-giang.
Đất Bắc-kỳ cứ giặc-giã mãi, quan quân đánh-dẹp thật là tổn-hại mà
không yên được. Đến tháng 7 năm nhâm-thân (1872), Triều-đình lại sai
Nguyễn tri Phương làm Tuyên-sát đổng-sức đại-thần ra thay mặt vua xem-
xét việc đánh giặc ở Bắc-kỳ. Nhưng lúc bấy giờ việc giặc ở trong nước chưa
xong, thì sự giao-thiệp với nước Pháp đã sinh ra lắm nỗi khó khăn, khiến
việc nước lại rối thêm ra nữa.
Chương IX
Quân Pháp Lấy Bắc Kỳ Lần
Thứ I
1. Người Pháp tìm đường sang Tàu
2.
Đồ-phổ-Nghĩa
3.
Đại-úy Francis Garnier ra Hà-nội
4. Hạ thành Hà-nội năm quí-dậu (1873)
5. Lấy mấy tỉnh ở Trung-châu
6.
Đại-úy Francis Garnier chết
7. Ông Philastre ra Hà-nội
8. Hòa-ước năm giáp-tuất (1874)
1. Người Pháp tìm đường sang Tàu.
Từ khi nước Pháp lấy
xong đất Nam-kỳ rồi, Súy-phủ ở Sài-gòn sửa-sang mọi việc, và cho người đi
xem xét tình thế và sông núi ở Trung-kỳ và Bắc-kỳ
để
mở mang sự giao-
thông. Lại có ý muốn tìm đường thông sang nước Tàu, bởi vậy tháng 5 năm
bính-dần (1866), thiếu-tướng De la Grandière sai trung-tá Doudart de Lagrée
cùng với
đại-úy Francis Garnier (Ngạc-nhi) và mấy người Pháp nữa theo
sông Mékong đi tìm đường sang Tàu. Đến tháng 3 năm mậu-thìn (1868),
non hai năm trời, ông Doudart de Lagrée mới sang đến
đất Vân-nam.
Nhưng chẳng may ông ấy phải bệnh đau gan mà chết. Ông Francis Garnier
đem xác ông ấy đi qua nước Tàu, rồi xuống Tàu thủy về Sài-gòn.
Đến năm canh-ngọ (1870) là năm Tự-đức thứ 23, ở bên Tây, nước
Pháp đánh nhau với nước Phổ; quân Pháp thua, Pháp-hoàng là Nã-phá-luân
đệ-tam bị bắt. Dân nước Pháp bỏ đế-quốc mà lập Dân-chủ cộng-hòa. Tuy ở
bên Pháp có sự chiến tranh, nhưng ở bên Viễn-đông này, quân Pháp vẫn giữ
vững đất Nam-kỳ. Vả Triều-đình ở Huế còn bận dẹp giặc Khách ở Bắc-kỳ,
cho nên cũng không sinh sự lôi-thôi gì cả.
2. Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis).
Thuở ấy, có một người Pháp
tên là Jean Dupuis, ta gọi là Đồ-phổ-Nghĩa mấy năm trước đã đi du lịch ở
các tỉnh bên Tàu, để tìm cách buôn-bán, biết có sông Hồng-hà từ đất Vân-
nam chảy qua Bắc-kỳ ra bể, là một đường tiện lợi hơn, bèn nhận với quan
nhà Thanh ở Vân-nam để chở đồ binh-khí sang bán.
Đồ-phổ-Nghĩa về cùng với một người Pháp nữa tên là Millot, buôn-
bán
ở Thượng-hải, trù-tính việc chở binh khí sang Vân-nam, đoạn rồi về
Pháp
để mua hàng. Khi trở sang bên này, Đồ-phổ-Nghĩa vào Sài-gòn xin
Súy-phủ giúp thanh-thế cho để đi qua Bắc-kỳ. Viên thống-đốc Nam-kỳ lúc
bấy giờ là lục-quân thiếu-tướng d'Arhaud, có hứa với
Đồ-phổ-Nghĩa cho
chiếc tàu Bourayne đi theo.
Đồ-phổ-Nghĩa sang Hương-cảng để cùng với Millot đem ba chiếc tàu
con là Hồng-giang, Lao-kay và Sơn-tây chở
đồ binh-khí và hàng-hóa vào
Quảng-yên. Trong lúc ấy hải-quân trung-tá Sénès đã đem tàu Bourayne ra
Bắc-kỳ, rồi lên Hải-dương, Hà-nội, Bắc-ninh đi xem các nơi.
Trung-tá
ở Bắc-ninh nghe tin bọn Đồ-phổ-Nghĩa đã đến Quảng-yên,
liền trở ra để cùng bàn với quan Khâm-sai Lê Tuấn về việc thông-thương ở
sông Hồng-hà.
Ông Lê Tuấn không có lệnh Triều-đình, không dám tự-tiện, nói xin
đợi vài mươi hôm để có mệnh nhà vua ra sẽ hay.
Đồ-phổ-Nghĩa và Millot thấy đợi lâu, bèn cứ đem tàu lên đóng ở Hà-
nội, rồi thuê thuyền chở đồ lên Vân-nam. Bấy giờ là cuối năm nhâm-thân
(1872), là năm Tự-đức thứ 25. Thuyền của Đồ-phổ-Nghĩa đi qua những đồn
của quan ta, của giặc cờ vàng và giặc cờ đen đều vô sự cả. Khi lên dến Vân-
nam, quan nhà Thanh cho chở đồ khoáng-vật xuống, đến thánh tư năm quí-
dậu (1873), thì Đồ-phổ-Nghĩa và Millot lại trở về đến Hà-nội, đem một bọn
lính cờ vàng về theo. Millot thì vào Sài-gòn cho Súy-phủ biết tình-thế ở Bắc-
kỳ, và nhân thể đem đồ khoáng-vật sang bán ở Hương-cảng. Còn Đồ-phổ-
Nghĩa thì ở
lại Hà-nội,
đóng
ở phố
Mới bây giờ, rồi cùng với mấy người
Khách là Bàng lợi Ký, Quan tá Đình mua gạo, mua muối chở lên Vân-nam.
Bấy giờ luật nước ta cấm không cho chở muối sang Tàu, mà việc
thông-thương ở sông Hồng-hà cũng chưa định rõ thế nào, nhưng Đồ-phổ-
Nghĩa tự xưng là có lệnh quan Tàu cho, thì không cần phải theo luật nước
Nam, vì nước Nam là một nước phải thần-phục nước Tàu.
Đồ-phổ-Nghĩa không hiểu rõ sự giao-thiệp nước Tàu và nước ta ngày
trước. Đối với Tàu thì bề ngoài nước ta tuy xưng cống-thần, nhưng kỳ thực
vẫn là độc-lập. Khi có việc gì, phải có sứ hai nước sang thương-nghị rồi mới
thi hành. Mà có khi sứ
nước Tàu bàn sang điều gì, nước ta không thuận
cũng thôi, chứ không có phép tự-tiện mà làm được. Chỉ trừ lúc nào nước
Tàu ỷ thế mạnh mà bắt-nạt, như đời nhà Nguyên, nhà Minh, và nhà Thanh,
thì lại có ông Trần hưng Đạo, ông Lê thái Tổ và ông Nguyễn quang Trung tỏ
cho người Tàu biết rằng nước Nam vốn không phải đất thuộc-địa của Tàu.
Tuy
vậy, quan ta phải nể Đồ-phổ-Nghĩa là người nước Pháp, sợ có
việc gì, thì thành ra bất-hòa với Súy-phủ ở Sài-gòn, cho nên cứ dùng lời nói
ngọt để can ông ấy đừng làm điều trái với luật nước. Nhưng ông ấy cứ một
niềm tự ý mình mà làm. Quan ta nhờ cả Giám-mục Puginier là Kẻ-sở lên can
cũng không được.
Sau quân ta có bắt mấy tên Khách Bành lợi Ký và Quan tá Đình về
sự đem thuyền chở muối và gạo lên Vân-nam, thì Đồ-phổ-Nghĩa đem người
đi bắt quan phòng-thành Hà-nội và quan huyện Thọ-xương,
đem xuống
thuyền giam lại. Quan ta cũng ngơ ngác không biết ra thế nào. Một bên thì
cố tình sinh sự, một bên thì mệnh nhà vua ra không được lôi thôi điều gì.
Bấy giờ Triều-đình sai quan hữu-tham-tri bộ Binh là Phan đình Bình
làm khâm-phái ra giao cho ông Nguyễn tri Phương phải thu-xếp cho yên
chuyện ấy. Ông Nguyễn tri Phương mới sai quan bố-chính là Vũ Đường định
ngày mời Đồ-phổ-Nghĩa đến hội-quán Quảng-đông, để hội nghị. Khi hai bên
đến hội-đồng, quan ta nói rằng sự giao-thiệp nước Pháp với nước Nam đã có
tờ hòa-ước năm nhâm-tuất (1862), và sự đem muối và gạo lên bán ở Vân-
nam là trái với tờ hòa-ước ấy, và lại trái với luật bản-quốc. Đồ-phổ-Nghĩa cãi
rằng ông ấy có lệnh quan Tàu cho là đủ, không cần phải xin phép gì nữa, rồi
đứng dậy ra về.
Triều-đình ở Huế thấy việc lôi thôi mãi, sợ để lâu thành ra nhiễu sự,
mới sai ông Lê Tuấn, ông Nguyễn văn Tường và ông Nguyễn tăng Doãn vào
sứ Sài-gòn, để thương-nghị về việc ba tỉnh phía tây đất Nam-kỳ và nhân thể
nhờ Súy-phủ phân xử việc Đồ-phổ-Nghĩa cho xong.
3. Đại-úy Francis Garnier (Ngạc Nhi) ra Hà-nội.
Viên
Thống-đốc Nam-kỳ bấy giờ là Hải-quân thiếu-tướng Dupré vốn đã lưu ý về
việc Bắc-kỳ. Trước đã viết thư về cho Thượng-thư thuộc-địa-bộ ở Paris nói
rằng: " Đất Bắc-kỳ là đất tiếp-giáp với những tỉnh tây-nam nước Tàu, ta nên
chiếm giữ lấy thì sự cai-trị của ta ở Viễn-đông này mới được chắc chắn " .
Nhưng bên Pháp bấy giờ mới đang đánh nhau với nước Phổ vừa
xong, không muốn gây chuyện khác, bèn điện sang cho thiếu-tướng rằng:
"Không
được sinh sự
ở
Bắc-kỳ." Đến khi Millot về Sài-gòn kể công việc ở
Bắc-kỳ, thiếu-tướng lại điện về Paris nói rằng: " Việc Đồ-phổ-Nghĩa ở Bắc-kỳ
đã thành công rồi. Cần phải lấy xứ Bắc-kỳ và giữ lấy con đường thông sang
Tàu. Không cần phải viện binh. Thành công chắc lắm ". Ngay hôm ấy,
thiếu-tướng lại viết thêm một cái thư
về nói rõ mọi lẽ, và quyết rằng xin
chính-phủ để cho thiếu-tướng được tự tiện, hễ có việc gì thì thiếu-tướng xin
chịu lỗi166.
Đang lúc ấy thì Triều-đình ở Huế sai bọn ông Lê Tuấn vào xin thiếu-
tướng ra điều-đình việc Đồ-phổ-Nghĩa ở Bắc-kỳ.
Cứ như ý của thiếu-tướng Dupré điện về cho chính-phủ Pháp thì
thiếu-tướng chỉ mong có cái cơ-hội gì để
đem
quân
ra
Bắc-kỳ. Nay thấy
Triều-đình ta vào nhờ Súy-phủ ở Sài-gòn phân-xử việc Đồ-phổ-Nghĩa, thật là
gặp được cái dịp mình đang mong, thiếu-tướng liền gọi quan hải-quân đại-úy
Francis Garnier ở Thượng-hải về, rồi sai ra Hà-nội, nói rằng ra phân-xử việc
Đồ-phổ-Nghĩa167.
Đại-úy Francis Garnier đem mấy chiếc tàu con và 170 người lính ra
đến cửa Thuận, nghỉ
lại mấy hôm để
đợi quan khâm-sai cùng ra Bắc-kỳ.
Đến tháng 10 năm quí-dậu (1873), thì các quan ra đến Hà-nội.
Bấy giờ ai cũng tưởng là đại-úy Francis Garnier ra chuyến này thì
mọi việc xong cả, cho nên đi đến đâu quan ta cũng tiếp-đãi rất trọng-hậu.
Nhưng xem những thư-từ của đại-úy lúc bấy giờ, thì cốt ra có chủ ý khác.
Khi ở Sài-gòn sắp đi, đại-úy viết thư về cho người anh ở bên Pháp nói rằng:
" Lệnh của Súy-phủ cho, là được tự tiện. Việc gì hải-quân thiếu-tướng cũng
ủy-thác cho tôi cả. Vậy vì nước Pháp mà tôi phải cố sức." Đến khi ra đến
Hải-dương,
đại-úy vào ở
Kẻ-sặt, rồi viết thư sai người
đem cho Đồ-phổ-
Nghĩa, báo tin cho ông ấy biết cái chủ đích của mình, và lại nói rằng trăm sự
đại-úy trông-cậy vào ông ấy chỉ bảo cho, bởi vì ông ấy đã quen biết mọi việc
ở Bắc-kỳ.
Đồ-phổ-Nghĩa tiếp được thư, liền đem chiếc tàu Man-hao đi đón đại-
úy. Lên đến Hà-nội, đại-úy đem mấy người đi thẳng vào thành ra mắt ông
Nguyễn tri Phương, và đòi đem quân ra đóng ở trong thành. Quân ta nói
mãi, Đại-úy mới thuận ra đóng ở Trường-thi. Đoạn rồi đại-úy viết thư mời
giám-mục Puginier ở Kẻ-sở lên Hà-nội, để nhờ làm thông-ngôn. Đại-úy lại
làm tờ hiểu-dụ, cho dân biết, nói rằng: " Bản-chức ra Bắc-kỳ cốt để dẹp cho
yên giặc-giã, và để mở-mang sự buôn-bán.
4. Hạ thành Hà-nội năm quí-dậu (1873).
Quan ta thấy đại-
úy không nói gì đến việc Đồ-phổ-Nghĩa, mà lại nói những việc dẹp-giặc và
mở sự buôn-bán, thì đều lấy làm phân-vân. Sau lại thấy tàu và quân ở Sài-
gòn tiến ra, quan ta lại càng lo lắm. Được mấy hôm, đại-úy không bàn hỏi
gì đến quan ta, tự-tiện làm tờ tuyên-bố sự mở sông Hồng-hà cho người nước
Pháp, nước I-pha-nho và nước Tàu được ra vào buôn-bán.
Quan ta lúc bấy giờ cũng bối-rối quá. Việc giao-thiệp và việc buôn-
bán với nước Pháp thì đã định rõ trong tờ hòa-ước năm nhâm-tuất (1862),
nay thấy đại-úy Francis Garnier đường đột làm như thế, thì cũng thấy làm lo,
cho nên cũng có kiếm cách phòng-bị. Mà đại-úy cũng đã biết trước rằng thế
nào quan ta cũng không chịu, cho nên đã định kế đánh thành Hà-nội.
Đến
đầu tháng 10, một mặt
đại-úy viết thư cho ông Nguyễn tri
Phương, trách quan ta làm ngăn-trở việc buôn-bán của Đồ-phổ-Nghĩa; vậy vì
sự văn-minh và cái quyền-lợi của nước Pháp, cho nên Súy-phủ ở Sài-gòn sai
đại-úy ra mở
sự buôn-bán ở
Bắc-kỳ. Dẫu quan Việt-nam có thuận hay
không cũng mặc,
đại-úy cứ theo lệnh của Súy-phủ mà thi-hành. Một mặt
đại-úy bàn-định với Đồ-phổ-Nghĩa định ngày đánh thành và bắt ông Nguyễn
tri Phương giải vào Sài-gòn.
Cứ như sách của Đồ-phổ-Nghĩa, thì lúc bấy giờ có cả những người
mạo xưng là đảng nhà Lê, cũng xin theo đại-úy để vào thành làm nội-ứng.
Đến sáng hôm rằm tháng 10 năm quí-dậu (1873), thì quân Pháp
phát súng bắn vào thành Hà-nội. Ông Nguyễn tri Phương cùng với con là
phò-mã Nguyễn Lâm hoảng-hốt lên thành giữ cửa Đông và cửa Nam. Được
non một giờ đồng hồ thì thành vỡ, phò-mã Lâm trúng đạn chết, ông Nguyễn
tri Phương thì bị thương nặng. Quân Pháp vào thành bắt được ông Nguyễn
tri Phương và quan khâm-phái Phan đình Bình đem xuống tàu.
Ông
Nguyễn tri Phương nghĩ mình là một bậc lão-thần thờ vua đã
trải ba triều, đánh nam dẹp bắc đã qua mấy phen, nay chẳng may vì việc
nước mà bị thương,
đến nỗi phải bị
bắt, ông quyết chí không chịu buộc
thuốc và nhịn ăn mà chết.
Ông
Nguyễn tri Phương là người người
ở Thừa-thiên, do lại-điển
xuất thân, làm quan từ
đời vua Thánh-tổ, trải qua ba triều, mà nhà vẫn
thanh-bạch, chỉ đem chí-lự mà lo việc nước, chứ không thiết của-cải. Nhưng
chẳng may phải khi quốc-bộ gian-nan, ông phải
đem thân hiến cho nước,
thành ra cả nhà cha con, anh em đều mất vì việc nước. thật là một nhà
trung-liệt xưa nay ít có vậy.
5. Lấy mấy tỉnh ở Trung-châu.
Thành Hà-nội thất thủ rồi, quan
ta thì trốn-tránh đi cả, giặc cướp lại nhân dịp nổi lên. Đại-úy Francis Garnier
lại cho những người theo với mình đi làm quan các nơi để chống với quan
triều, rồi lại sai người đi đánh lấy tỉnh Ninh-bình, Nam-định và Hải-dương.
Quan
ta
ở các tỉnh
đều ngơ ngác không biết ra thế nào, hễ thấy
người Tây đến là bỏ chạy. Bởi vậy, chỉ có người Pháp tên là Hautefeuille và
7 người lính tây mà hạ được thành Ninh-bình, và chỉ trong 20 ngày mà 4 tỉnh
ở Trung-châu mất cả.
6. Đại-úy Francis Garnier chết.
Triều-đình được tin biến ở Bắc-
kỳ, vội-vàng sai ông Trần đình Túc, ông Nguyễn trọng Hợp, ông Trương gia
Hội cùng với giám-mục Bình (Mgr Bohier) và linh-mục Đăng ( Dangelger) ra
Hà-nội, để điều đình mọi việc và sai ông Hoàng kế Viêm ở Sơn-tây làm tiết-
chế quân-vụ,
để phòng giữ các nơi. Lại sai ông Lê Tuấn làm toàn-quyền,
ông Nguyễn văn Tường làm phó, vào thương-thuyết với Súy-phủ ở Sài-gòn
về việc đại-úy Francis Garnier đánh Bắc-kỳ.
Lúc
bấy giờ ông Hoàng kế Viêm đóng ở Sơn-tây, có đảng cờ đen là
bọn Lưu vĩnh Phúc về giúp. Vua phong cho Lưu vĩnh Phúc làm đề-đốc, để
cùng với quan quân chống giữ quân Pháp. Lưu vĩnh Phúc đem quân về
đóng ở mạn phủ Hoài-đức. Khi ông Trần đình Túc và ông Nguyễn trọng Hợp
đang thương-thuyết với đại-úy Francis Garnier, thì quân cờ đen về đánh Hà-
nội. Đại-úy đem quân đi đuổi đánh, lên đến Cầu-giấy thì bị phục quân giết
chết.
7. Ông Philastre ra Hà-nội.
Nguyên khi thiếu-tướng Dupré sai
đại-úy Francis Garnier ra Bắc-kỳ là tự ý mình chứ chính-phủ nước Pháp vẫn
không thuận, bởi vậy khi được tin đại-úy
đã khởi sự
đánh Hà-nội, thiếu-
tướng liền sai hải-quân đại-úy, khiêm chức thống-soái việc hình-luật ở Nam-
kỳ, là ông Philastre (ta gọi là Hoắc-đạo-sinh) cùng với qua phó-sứ nước ta là
ông Nguyễn văn Tường ra điều-đình mọi việc ở Bắc-kỳ.
Đến Cửa-cấm thì ông Philastre và ông Nguyễn văn Tường mới biết
rằng đại-úy Francis Garnier đã bị quân cờ đen giết mất rồi. Sử chép rằng khi
được tin ấy, ông Philastre tức giận vỗ bàn mà bảo ông Nguyễn văn Tường
rằng: " Việc không xong rồi, phải trở về đợi lệnh súy-phủ mới được. " Ông
Nguyễn văn Tường sợ ông Philastre giận quá mà nhỡ việc, mới ung-dung mà
nói rằng: " Việc đánh lấy thành Hà-nội súy-phủ bảo không phải là bản-ý, mà
quân bản-quốc ở 4 tỉnh Bắc-kỳ cũng không tranh dành gì cả. Vậy hai bên
không có làm điều gì trái nhau. Nay đại-úy Francis Garnier chết, hoặc là bị
giết chết, hoặc là vì dân nổi lên làm loạn, việc ấy ta chưa rõ. Huống chi trả
thành lại
để
định hòa-ước cho xong, ấy là lệnh của súy-phủ; mà thu lấy
thành rồi mới nghị-hòa, ấy là mệnh của bản-quốc. Còn như việc Hà-nội giết
đại-úy Francis Garnier thì cũng như đại-úy Francis Garnier giết ông Nguyễn
tri Phương, việc đó xuất ư ý ngoại, chứ có phải lỗi chúng ta đâu. Bây giờ
chúng ta ra đây, mắt chưa trông thấy việc gì cả, mới nghe thấy tin báo mà
đã bỏ về, thế chẳng hóa ra mình đi uổng mất công hay sao ? chi bằng ta
cho người đưa thư lên Hà-nội bảo đem tàu xuống đón, chúng ta sẽ lên tới
nơi, hoặc là cứ theo mệnh lệnh mà làm, hoặc là xét rõ duyên-do tại sao mà
đại-úy Francis Garnier chết, rồi sẽ báo tin, thế chẳng ổn việc lắm hay sao ? "
Ông Philastre nghe lời ấy, bèn sai người đưa thư lên cho Hà-nội biết.
Ngay
lúc
ấy có tàu " Decrès " còn đóng ở gần Đồ-sơn, ông Philastre
muốn sang tàu ấy để cho chiếc tàu mình đi là "D'Estrées " trở về báo tin cho
Sài-gòn biết. Nguyễn văn Tường ngăn đi rằng: "Tàu của mình đã vào cửa
rồi lại trở ra, nhỡ sĩ-dân biết, lại bắt chước Hà-nội mà làm bậy, thì làm thế
nào mà ngăn cấm được; sợ có việc tổn-hại, thì lấy lẽ gì mà bẩm với quí súy.
Vậy nay xin sai chiếc tàu "Decrès" ra bể, đuổi đánh những giặc Tàu-ô, còn
cứ
đem tàu "D'Estrées" vào đến Hải-phòng, rồi ta lên Hải-dương,
đem trả
tỉnh-thành lại cho bản-triều, để tỏ cái lòng tin cho sĩ-dân biết, sau ta lên Hà-
nội, trả nốt cả mấy thành kia, và tra-hỏi việc đại úy Francis Garnier chết ra
thế nào sẽ bẩm cho quí-súy biết " .
Ông Philastre vốn là một người rất công bằng, lại thấy ông Nguyễn
văn Tường nói hợp-lẽ, bèn thuận nghe, và lên Hải-dương truyền trả thành lại
cho quan ta, rồi lên Hà-nội làm tờ giao-ước trả lại cả 4 thành cho quan ta coi
giữ. Còn những tàu bè và quân lính của Pháp ở các tỉnh thì thu cả về Hà-
nội, rồi đinh ngày rút quân ra đóng ở Hải-phòng đợi đến ngày ký tờ hòa-ước
xong thì rút về. Bấy giờ là tháng giêng năm giáp-tuất (1874), là năm Tự-
đức thứ 27.
Đồ-phổ-Nghĩa thấy ông Philastre phá mất cả những việc của mình
đã làm với đại-úy Francis Garnier, bèn vào Sài-gòn kêu với súy-phủ và đòi
tiền phí-tổn non một triệu nguyên
8. Hòa-ước năm giáp-tuất (1874).
Mọi việc ở Hà-nội xếp-đặt
xong rồi, súy-phủ
ở Sài-gòn sai ông Rheinart (Lê Na) ra thay cho ông
Philastre cùng với ông Nguyễn văn Tường về Nam-kỳ, định sự hòa-ước cho
kịp ngày thiếu-tướng Dupré về Pháp.
Ngày 27 tháng giêng năm giáp-tuất (1874), là năm Tự-đức thứ 27,
hải-quân thiếu-tướng Dupré và ông Lê Tuấn, ông Nguyễn văn Tường ký tờ
hòa-ước cả thảy 22 khoản, đại-lược có những khoản này là quan trọng hơn
cả.
Khoản II. Quan thống-lĩnh nước Pháp nhận quyền độc-lập của vua nước
Nam không phải thần phục nước nào nữa, và khi nào vua nước Nam có cần
đến việc gì để
đánh dẹp giặc giã, thì nước Pháp sẵn lòng giúp mà không
yêu-cầu điều gì.
Khoản III. Vua nước Nam phải đoan nhận y theo chính-lược ngoại-giao của
nước Pháp, và chính-lược ngoại-giao hiện lúc bấy giờ thế nào thì phải
để
nguyên như thế, không được đổi khác đi
Quan thống-lĩnh nước Pháp tặng vua nước Nam:
1. 5 chiếc tàu có đủ máy-móc súng-ống
2. 100 khẩu súng đại-bác, và mỗi khẩu có 200 viên đạn
3. 1000 khẩu súng tay và 5000 viên đạn
Khoản IV. Quan thống-lĩnh nước Pháp hứa cho quan sang giúp vua nước
Nam để dạy tập lính thủy, lính bộ; cho những kỹ-sư sang dạy làm mọi việc,
và cho những người giỏi việc tài chính sang tổ-chức việc thuế-má và việc
thương-chính v. v.
Khoản V. Vua nước Nam phải thuận nhường đứt đất 6 tỉnh Nam-kỳ cho
nước Pháp.
Khoản IX. Vua nước Nam phải để cho giáo-sĩ được tự-do đi giảng-đạo, và
cho dân trong nước được tự-do theo đạo.
Khoản XI. Vua nước Nam phải mở cửa Thị-nại ( Qui-nhơn ), của Ninh-hải (
Hải-phòng ), thành Hà-nội và sông Hồng-hà, cho ngoại quốc vào buôn-bán.
Khoản XIII. Nước Pháp được quyền đặt lĩnh-sự ở các cửa bể và các thành-
thị đã mở ra cho ngoại quốc vào buôn-bán.
Khoản XV. Người nước Pháp hay là người ngoại quốc, hễ có giấy thông
hành của quan lĩnh-sự
Pháp
và
có
chữ quan Việt-nam phê nhận thì được
phép đi xem các nơi ở trong nước.
Khoản XVI. Người nước Pháp và người ngoại quốc có điều gì kiện tụng tại
đất Việt-nam, thì do lĩnh-sự Pháp phân-xử.
Khoản XX. Khi nào tờ hòa-ước này ký xong, thì quan thống-lĩnh nước Pháp
đặt sứ-thần ở Huế để chiếu những điều đã giao-ước mà thi hành. Vua nước
Nam cũng được quyền đặt sứ-thần ở Paris và ở Sài-gòn.
Tờ hòa-ước
ấy ký xong, thì quan chánh-sứ Lê Tuấn mất, ông
Nguyễn văn Tường về Huế. Thiếu-tướng Dupré giao mọi việc ở Nam-kỳ cho
hải-quân thiếu-tướng Krantz quyền lĩnh, rồi về Pháp.
Tháng 6, Triều-đình
ở Huế
lại sai quan hình-bộ Thượng-thư là
Nguyễn văn Tường và quan lại-bộ thị-lang là Nguyễn tăng Doãn, vào Sài-gòn
cùng với thiếu-tướng Krantz định các lệ về sự buôn-bán ở nước Nam. Đến
20 tháng 7, thì tờ thương-ước lập xong.
CHƯƠNG X
Tình thế nước Nam từ năm
Giáp Tuất về sau
1. Văn-thân nổi loạn ở Nghệ-tỉnh
2. Giặc ở Bắc-kỳ
3. Sự giao-thiệp với Tàu
4. Tình-thế nước Tàu
5. Sự giao-thiệp với nước Pháp
1. Văn-thân nổi loạn ở Nghệ-tỉnh.
Nhờ có ông Philastre và
ông Nguyễn văn Tường thu xếp việc Bắc-kỳ vừa xong, thì ở mạn Nghệ-tĩnh
có loạn.
Nguyên lúc bấy giờ dân trong nước ta chia ra làm hai phái: bên
lương, bên giáo; hai bên vẫn không ưa nhau. Đến khi sảy ra việc
đại-úy
Francis Garnier lấy Hà-nội, bọn sĩ phu ở
mạn Nghệ-tĩnh thấy giáo-dân có
nhiều người theo giúp ông ấy, thì lấy làm tức giận lắm, bèn rủ nhau nổi lên
đánh phá.
Tháng
giêng
năm giáp-tuất (1874), là năm Tự-đức thứ 27, đất
Nghệ-an có hai người tú-tài là Trần Tấn và Đặng như Mai hội-tập cả các văn-
thân trong hạt, rồi làm một bài hịch gọi là " Bình Tây sát tả ", đại lược nói
rằng " Triều-đình dẫu hòa với với Tây mặc lòng sĩ-phu nước Nam vẫn không
chịu, vậy trước nhất xin giết hết giáo-dân, rồi sau đánh đuổi người Tây cho
hết, để giữ lại cái văn-hóa của ta đã hơn 1000 năm nay, v. v..." Bọn Văn-
thân cả thảy độ non hơn ba nghìn người, kéo đi đốt phá những làng có đạo.
Nước ta mà không chịu khai-hóa ra như các nước khác là cũng bởi
bọn sĩ-phu cứ giữ thói cũ, không chịu theo thời thế mà thay đổi. Nay sự
suy-nhược của mình đã sờ sờ ra đấy, thế mà vẫn cứ không chịu mở mắt ra
mà nhìn, lại vì sự tức giận một lúc mà việc nông-nỗi càn-rỡ, để cho thiệt hại
thêm, như thế thì cái tội trạng của bọn sĩ-phu đối với nước nhà chẳng to lắm
ru!
Lúc
bấy giờ quan tổng-đốc Nghệ-an là ông Tôn thất Triệt lại có ý
dung-túng bọn Văn-thân, cho nên họ càng đắc thế càng phá dữ. Triều-đình
thấy vậy, mới truyền bắt quan quân phải dẹp cho yên. Bọn Văn-thân thấy
quan quân đuổi đánh, bèn cùng với bọn giặc Trần quang Hoán, Trương quan
Phủ, Nguyễn huy Điển đánh lấy thành Hà-tĩnh, rồi ra vây phủ Diễn-châu.
Triều-đình thấy thế giặc càng ngày càng to, bèn sai ông Nguyễn văn
Tường ra làm khâm-sai và ông Lê bá Thận làm tổng-thống,
đem quân ra
đánh dẹp, từ tháng 2 đến tháng 6 mới xong.
2. Giặc ở Bắc-kỳ.
Thuở ấy ở mạn Thượng-du đất Bắc-kỳ lúc nào cũng
có giặc, quan quân đánh mãi không được, phải nhờ quân Tàu sang đánh
giúp cũng không xong.
Mạn Hải-dương và Quảng-yên thì vẫn có những người mạo xưng là
con-cháu nhà Lê, cứ quấy-rỗi mãi. Khi Francis Garnier ra lấy Hà-nội, những
người ấy về xin theo đi đánh quân ta, nhưng vì sau nước Pháp trả lại các
tỉnh ở Bắc-kỳ, họ lại tản đi. và từ khi nước ta và nước Pháp đã ký hòa-ước
rồi, quan Pháp có đem binh-thuyền
đi
đánh giúp, cho nên mới diệt
được
đảng ấy.
Còn
ở
mạn Tuyên-quang, thì có giặc cờ vàng nhũng-nhiễu
đã lâu.
Quan quân phải đánh dẹp mãi không được. Đến tháng 8 năm ất-hợi (1875),
là năm Tự-đức thứ 28, tướng cờ vàng là Hoàng sùng Anh đem quân về đóng
ở làng Châu-thượng, thuộc phủ Vĩnh-tường. Bấy giờ quan quân tán-dương
quân-vụ tỉnh Sơn-tây là Tôn thất Thuyết về đánh một trận. Giặc ấy từ đó
tan dần.
Năm sau Tôn thất Thuyết lại giết được tên giặc Trận ở làng Cổ-loa,
và dẹp yên được ở mạn Sơn-tây. Nhưng đến năm mậu-dần (1878), ở Lạng-
sơn lại có tên giặc Khách là Lý dương Tài nổi lên.
Lý
dương Tài trước làm quan hiệp-trấn
ở
Tầm-châu, thuộc tỉnh
Quảng-tây, sau bị cách mới nổi lên làm giặc và đem quân tràn sang đánh lấy
tỉnh Lạng-sơn.
Quan
ta
đem thư sang cho quan Tàu biết. Quan đề-đốc
Quảng-tây là Phùng tử Tài đem quân 26 doanh sang cùng với quân ta hội-
tiễu. Đến tháng 9 năm kỷ-mão (1879), quan quân mới bắt được Lý dương
Tài ở núi Nghiêm-hậu thuộc tỉnh Thái-nguyên đem giải sang Tàu.
Vì
đất Bắc-kỳ
cứ có giặc giã luôn cho nên Triều-đình
đặt ra chức
Tĩnh-biên-sứ để giừ các nơi về đường ngược. Năm canh-thìn (1880), đặt ra
Lạng-giang-đạo và Đoan-hùng-đạo sai hai viên Tĩnh-biên phó-sứ là Trương
quang
Đản
đóng
ở
Lạng-giang và Nguyễn hữu
Độ
đóng
ở
Đoan-hùng, lại
phong cho Hoàng kế Viêm là Tĩnh-biên-sứ, kiêm cả hai đạo .
3. Sự giao-thiệp với Tàu.
Nước ta từ xưa đến nay tuy là độc-lập,
nhưng vẫ giữ lệ triều-cống nước Tàu, lấy cái nghĩa rằng nước nhỏ phải tôn-
kính nước lớn. cho nên khi chiến-tranh, dẫu ta có đánh được Tàu đi nữa, thì
rồi nhà nào lên làm vua cũng phải theo cái lệ ấy, mà đời nào cũng lấy điều
đó làm tự-nhiên vì rằng triều-cống cũng không tổn hại gì mấy, mà nước vẫn
độc-lập và lại không hay có việc lôi-thôi với một nước láng-diềng mạnh hơn
mình. Bởi vậy hễ vua nào lên ngôi, cũng chiếu lệ sai sứ sang Tàu cầu
phong, và cứ ba năm sai sứ sang cống một lần.
Các
vua
đời nhà Nguyễn cũng theo lệ ấy, nhưng các đời vua trước
thì vua phải ra Hà-nội mà tiếp sứ Tàu và thụ phong cho. Đến đời vua Dực-
tông thì sứ Tàu vào tại Huế phong vương cho ngài.
Còn
những cống phẩm thì cứ theo lệ, mà thường chỉ đưa sang giao
cho quan Tổng-đốc Lưỡng-Quảng để đệ về Kinh, chứ không mấy khi sứ ta
sang đến Yên-kinh. Trong đời vua Dực-tông thì sử chép rằng năm mậu-thìn
(1868), có ông Lê Tuấn, ông Nguyễn tư Giản và ông Hoàng Tịnh sang sứ
Tàu. Năm quí-dậu (1873), lại có các ông Phan sĩ Thục, ông Hà văn Khai, và
ông Nguyễn Tu sang sứ Tàu, để bày tỏ việc đánh giặc Khách ở Bắc-kỳ.
Từ năm giáp-tuất (1874) trở đi, Triều-đình ở Huế đã ký tờ hòa-ước
với Pháp, công nhận nước Nam độc-lập, không thần-phục nước nào nữa,
nhưng lúc bấy giờ vì thế bất-đắc-dĩ mà ký tờ hòa-ước, cứ trong bụng vua
Dực-tông vẫn không phục, cho nên ngài vẫn cứ theo lệ
cũ mà triều-cống
nước Tàu, có ý mong khi hữu sự, nước Tàu sang giúp mình. Bởi vậy năm
bính-tí (1876), vua Dực-tông sai ông Bùi ân Niên tức là ông Bùi Dỵ, ông Lâm
Hoành và ông Lê Cát sang sứ nhà Thanh. Năm canh-thìn (1880), lại sai ông
Nguyễn Thuật, Trần Khánh Tiên, Nguyễn Hoang sang Yên-kinh dâng biểu
xưng thần và các đồ cống-phẩm. Năm sau, Triều-đình nhà Thanh sai Đường
đình Canh sang Huế bàn việc buôn-bán và lập cuộc chiêu thương, chủ ý là
để thông tin cho chính phủ Tàu biết mọi việc bên nước ta.
Một bên đã hòa với nước Pháp, nhận theo chính-lược ngoại-giao của
nước Pháp mà độc-lập168, một bên cứ triều-cống nước Tàu, có ý để cầu viện,
bởi thế cho nên chính phủ Pháp lấy điều đó mà trách Triều-đình ta vậy.
4. Tình-thế
nước Tàu.
Xưa nay ta vẫn công nhận nước Tàu là
thượng-quốc và vẫn phải lệ triều-cống. Hễ khi nào trong nước có việc biến-
loạn và vẫn trông mong nước Tàu sang cứu-viện. Không ngờ từ thế-kỷ thứ
XIX trở đi, thế lực các nước bên Tây-âu mạnh lên, người phương Tây đi lược
địa rất nhiều, mà tình thế nước Tàu thì rất là suy-nhược. Năm Đạo-quang
thứ 19 (1839) tức là năm Minh-mệnh thứ 20 bên ta, vì việc cấm thuốc nha-
phiến
ở Quảng-đông thành ra có chiến-tranh với nước Anh-cát-lợi. Quân
nước Anh đánh phá thành Ninh-ba, Thương-hải, v. v. Vua Đạo Quang phải
nhận những điều hòa-ước năm nhâm-dần (1842) làm tại Nam-kinh, nhường
đảo Hương-cảng cho nước Anh và mở những thành Quảng-châu, Hạ-môn,
Phúc-châu, Ninh-ba và Thương-hải ra cho ngoại quốc vào buôn-bán.
Cuộc hòa-ước ở Nam-kinh định xong, các nước ngoại-dương vào
buôn-bán ở nước Tàu và đặt lĩnh-sự ở Quảng-châu, Ninh-ba, Thương-hải, v.
v. Đến năm Hàm-phong thứ 8 (1858), tức là năm Tự-đức thứ 11, nước Anh
và nước Pháp ký tờ hòa-ước với nước Tàu, đặt sứ-thần ở Bắc-kinh. Đoạn
nước Tàu có điều trái ước, gây thành việc chiến-tranh với hai nước ấy. Quân
nước Anh và nước Pháp đánh lấy hải-khẩu, rồi kéo lên đánh lấy Bắc-kinh.
Vua Hàm-phong phải nhận những điều hòa-ước năm canh-thân (1860) làm
tại Thiên-tân.
Từ đó nước Tàu bị các nước khác sách-nhiễu mọi điều và bị đè nén
nhiều cách. Lúc ấy nước Tàu chẳng khác gì cái nhà lớn đã bị hẩm-nát sắp
đổ, mà ta vẫn không tỉnh ngộ, cứ mê-mộng là nước ấy còn cường thịnh, có
thể giúp ta được trong khi nguy-hiểm. Bởi vậy khi quân nước Pháp đã lấy
Bắc-kỳ
rồi, người mình còn trông cậy
ở quân cứu-viện của nước Tàu.
Phương-ngôn ta có câu rằng " Chết đuối vớ phải bọt " thật là đúng lắm. Nếu
người Tàu có đủ thế lực cứu được ta, thì trước hết họ hãy cứu lấy họ đã.
Nhưng lúc bấy giờ từ vua quan cho chí bọn sĩ-phu trong nước ta, ai là người
hiểu rõ cái tình-thế
ấy ? Cho nên không những là ta không chịu cải cách
chính thể của ta cho hợp thời mà lại còn làm những điều ngang-ngạnh để
cho chóng hỏng việc. Ấy cũng là cái vận nước chẳng may, song những
người đương lộ lúc ấy cũng không so tránh được cái lỗi của mình vậy.
5. Sự giao-thiệp với nước Pháp.
Từ khi ông Philastre ra điều-
đình mọi việc ở Bắc-kỳ xong rồi, ông Rheinart ra thay ở Hà-nội, đợi cho đến
ngày ký hòa-ước thì chiếu mọi khoản mà thi hành. Ông Rheinart ở
được
mấy tháng, rồi về lại Sài-gòn, giao quyền cho lục-quân thiếu-tá Dujardin (La-
Đăng). Thiếu-tá có đem binh-thuyền giúp quan ta đi đánh giặc ở mạn Hải-
dương và Quảng-yên.
Đến khi tờ hòa-ước và tờ thương-ước đã ký xong thì Triều-đình sai
ông Nguyễn tăng Doãn ra Bắc-kỳ để cùng thiếu-tá Dujardin chọn đất ở Hà-
nội và ở Ninh-hải (Hải-phòng)
để làm dinh làm trại cho quan quân nước
Pháp đóng, và lại sai quan thượng-thư bộ Hộ là ông Phạm phú Thứ ra làm
Hải-an tổng-đốc sung chức tổng-lý thương-chánh
đại-thần, cùng với ông
Nguyễn tăng Doãn và ông Trần hi Tăng bàn định việc thương-chánh ở Bắc-
Kỳ.
Tháng 6 năm
ất-hợi (1875) chính phủ
nước Pháp sai ông Rheinart
sang làm khâm-sứ
ở Huế, ông Truc làm lĩnh-sự
ở
Hải-phòng, và ông
Kergaradec (Kê-la-đích) làm lĩnh-sự
ở Hà-nội. Triều-đình sai ông Nguyễn
thành Ý vào làm lĩnh sự ở Sài-gòn.
Ông
Rheinart
ở Huế đến tháng 10 năm bính-tí (1876), thì cáo bịnh
xin về, ông Philastre ra thay.
Triều-đình lúc bấy giờ cũng đã hiểu rằng hễ không theo tân-học thì
không tiến-hóa được, cho nên mới định cho người đi du học. Năm mậu-dần
(1878), bên Pháp có mở hội vạn quốc đấu-xảo ở Paris, vua sai ông Nguyễn
thành Ý và ông Nguyễn tăng Doãn đem
đồ
đi đấu-xảo và cho người sang
học ở Toulon.
Nhưng vì năm tân-tị (1881), Triều-đình lại sai quan Lễ-bộ thị-lang là
Phạm Bính sang Hương-cảng, đem 12 đứa trẻ con đi học ở trường Anh-cát-
lợi, rồi lại sai sứ đi sang Tiêm-la và sang Tàu mà không cho sứ-thần nước
Pháp biết, bởi vậy chính-phủ Pháp lấy những điều đó mà trách Triều-đình ở
Huế không theo hòa-ước năm giáp-tuất (1874).
Khi ông Philastre còn ở Huế, vì ông ấy là một người công chính và lại
có học chữ Nho, cho nên Triều-đình ta trọng-đãi và có điều gì trang-trải
cũng còn dễ. Từ năm kỷ-mão (1879) về sau, ông ấy về Pháp rồi, sự giao-
thiệp càng ngày càng khó thêm: phần thì vì người mình không biết cách giao
thiệp với ngoại-quốc, phần thì cái quyền-lợi nước ta và nước Pháp lúc bấy
giờ tương-phản với nhau, cho nên hai bên không có lòng tin-cậy nhau, thành
ra sự giao-thiệp không được thân-thiết lắm.
Vả về sau, sự cai-trị ở Nam-kỳ đã thành nếp, giặc giã đã yên cả; ở
bên Pháp thì thế lực đã mạnh, và đã có nhiều người bàn đến việc bên Viễn-
đông này và việc bảo-hộ ở Bắc-kỳ. Lại nhân có những nước I-ta-ly. I-pha-
nho, Anh-cát-lợi và Hoa-kỳ muốn sang thông-thương với nước Nam, mà có ý
không muốn chịu
để quan nước Pháp phân-xử những việc can-thiệp
đến
người những nước ấy. Bởi vậy nước Pháp muốn lập hẳn cuộc bảo-hộ để cho
khỏi mọi sự lôi thôi, bèn bỏ lệ đặt quan hải-quân khiêm lĩnh chức thống-đốc
ở Nam-kỳ, mà sai quan văn sang sung chức ấy để trù-tính mọi việc.
Tháng 6 năm kỷ-mão (1879), viên thống đốc mới là ông Le Myre de
Vilers sang nhận chức
ở Sài-gòn và ông Rheinart lại sang làm khâm-sứ
ở
Huế để thay cho ông Philastre.
Bắc-kỳ thì người Pháp đã ra vào buôn-bán, nhưng vì quan ta không
biết lo sự khai hóa, việc thông thương không được tiện-lợi, và ở
mạn
thượng-du thì có quân cờ đen tuy là mượn tiếng theo lệnh quan ta, nhưng
kỳ thực chúng nó làm gì cũng không ai ngăn cấm được. Bởi vậy, chính-phủ
Pháp mới lấy những điều đó mà trách quan ta và sai quan đem quân ra Bắc-
kỳ, lấy cớ nói ra mở mang sự buôn-bán, kỳ thực là ra kinh-doanh việc
ở
vùng ấy.
CHƯƠNG XI
Quân Pháp Lấy Bắc Kỳ Lần
Thứ II
1.
Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội
2.
Hạ thành Hà Nội lần thứ hai
3.
Việc cầu cứu nước Tàu
4. Quân Pháp lấy Nam Định
1. Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội.
- Cuối năm Tân Tỵ (1881)169, nhân có hai người Pháp tên là Courtin và Villeroi được giấy thông hành đi lên
Vân Nam, nhưng lên đến gần Lào Kay, bị quân Khách làm ngăn trở, không đi
được. Viên thống đốc Le Myre de Vilers bèn gửi thư về Pháp, nói rằng nước
Pháp nên dùng binh lực mà cho dẹp cho yên đất Bắc Kỳ. Sang tháng 2 năm
Nhâm Ngọ (1882), một mặt thống đốc sai hải quân đại tá Henri Rivière sắp
sửa binh thuyền ra Hà Nội; một mặt viết thư vào Huế, đại lược nói rằng : đất
Bắc Kỳ loạn lạc, luật nhà vua không ai theo. Người nước Pháp có giấy thông
hành của quân An Nam cấp cho mà đi đến đâu cũng bị quân Khách ngăn
trở. Ở Huế thì quan Việt Nam thất lễ với quan khâm sứ Rheinart. Vậy nên
nước Pháp phải dùng cách để bênh vực quyền lợi của người nước Pháp.
Được ít lâu, đại tá Henri Rivière đem hai chiếc tàu và mấy trăm quân
ra đến Hải Phòng, rồi đi tàu nhỏ lên Hà Nội, đóng ở Đồn Thủy.
2. Hạ thành Hà-nội lần thứ hai.
Quan tổng đốc Hà Nội bấy giờ
là ông Hoàng Diệu thấy binh thuyền nước Pháp tự nhiên ra Bắc Kỳ, lấy làm
nghi kỵ
lắm, tuy có sai quan tuần phủ Hoàng Hữu Xứng ra tiếp đãi tử tế,
nhưng trong bụng vẫn lo, cho nên mới sai sửa dọn thành trì để phòng bị. Đại
tá Henri Rivière vào thành thấy vậy có ý không bằng lòng, bèn quyết ý đánh
thành.
Sáng
5
giờ ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1882), quan tổng
đốc tiếp được tờ tối hậu thư của đại tá hạn cho đến 8 giờ phải giải binh, và
các quan võ Việt Nam phải ra đợi lệnh ở Đồn Thủy. Đúng 8 giờ thì quân
Pháp khởi sự đánh thành, 11 giờ thì thành đổ. Ông Hoàng Diệu trèo lên cây
thắt cổ mà tự tận, còn các quan thì bỏ chạy cả.
Lúc
tiếp được thư của đại tá, thì ông Hoàng Diệu có sai Án sát sứ là
Tôn Thất Bá ra thương thuyết. Ông Tôn Thất Bá ở trên thành bỏ thang trèo
xuống vừa xong, thì quân Pháp bắn súng vào thành, ông ấy bỏ trốn mất.
Đến khi hạ được thành rồi, đại tá sai tìm ông Tôn Thất Bá về quyền lĩnh mọi
việc 170.
Vua Dực Tông được tin thành Hà Nội thất thủ, bèn xuống chiếu
truyền cho quan kinh lược chánh phó sứ là là ông Nguyễn Chính và Bùi Ân
Niên đem binh lui về mặt Mỹ Đức để cùng với Hoàng Kế Viêm tìm cách
chống giữ. Nhưng quan khâm sứ Rheinart sang thương thuyết rằng việc
đánh thành Hà Nội không phải là chủ ý của nước Pháp, và xin sai quan ra
giữ lấy thành trì. Triều đình bèn sai quan nguyên Hà Ninh tổng đốc là Trần
Đình Túc làm Khâm sai đại thần, quan Tĩnh biên phó sứ là Nguyễn Hữu Độ
làm phó khâm sai, ra Hà Nội để cùng với đại tá Henri Rivière thu xếp mọi
việc. Đại tá trả thành Hà Nội cho quan ta, nhưng vẫn đóng quân ở trong
Hành cung. Hai bên thương nghị mãi. Đại tá đòi 4 khoản :
1 - nước Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ
2 - phải nhường thành thị Hà Nội cho nước Pháp
3
-
đặt thương chánh ở Bắc Kỳ
4 - sửa lại việc thương chánh ở các nơi, và giao quyền
cho người Pháp cai quản.
Bọn ông Trần Đình Túc đệ những khoản ấy về Kinh. Triều đình hội
nghị, các quan có nhiều ng
Hồ Thành Tín (Theo Trần Trọng Kim) |