Việt Nam Sử Lược - Cận Kim Thời Đại
30.03.2008 15:52
11. Nguyễn Vương Ánh ở Tiêm La 12. Nguyễn Vương về lấy Gia Định 13. Nguyễn Vương sửa sang mọi việc ở Gia Định 14. Việc khai khẩn điền thổ 15. Việc buôn bán 16. Ông Bá Đa Lộc và Hoàng Tử Cảnh ở Pháp về 17. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn lần thứ nhất 18. Thế lực Tây Sơn 19. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn lần thứ hai 20.
Phần VCận Kim Thời Đại
CHƯƠNG XII Nguyễn Vương Nhất Thống Nước Nam
11. Nguyễn Vương Ánh ở Tiêm La
12. Nguyễn Vương về lấy Gia Định
13. Nguyễn Vương sửa sang mọi việc ở Gia Định
14. Việc khai khẩn điền thổ
15. Việc buôn bán
16. Ông
Bá
Đa Lộc và Hoàng Tử Cảnh ở Pháp về
17. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn lần thứ nhất
18. Thế lực Tây Sơn
19. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn lần thứ hai
20. Nguyễn Vương đánh Quy Nhơn lần thứ nhất
21. Quân Tây Sơn vây thành Bình Định
22. Nguyễn Vương thu phục Phú Xuân
23. Võ Tính tử tiết
24. Nguyễn Vương lên ngôi tôn
25. Quân Nam ra lấy bắc hà
1. Nguyễn Vương Ánh ở Tiêm La.
Tháng tư năm ất tị (1785),
ông Nguyễn Huệ phá quân Tiêm La ở Mỹ tho, Nguyễn Vương thế cô, lại phải
sang nương nhờ nước Tiêm. Đến khi các tướng sĩ đã biết ngài ở Tiêm La,
đều lục tục kéo sang bái yết, bấy giờ
có
quan
cũ là Lê Văn Câu (còn gọi
Quân hay Duân) đem 600 người sang theo giúp. Vua nước Tiêm để cho
người Việt Nam ở riêng một chỗ
gọi là Long Kỳ,
ở ngoài thành Vọng Các
(Bangkok)
133
.
Nguyễn Vương bèn phân trí mọi người đi làm các việc: người thì đi
làm ruộng để lấy thóc gạo nuôi quân, người thì đi ra các đảo làm sẵng chiến
133
Nay ở Bangkok có một chỗ gọi là làng Gia Long tức là chỗ Nguyễn Vương ở ngày trước.
thuyền, người thì đi lẻn về Gia Định, chiêu tập những kẻ nghĩ dũng để đợi
ngày khôi phục.
Lúc
bấy giờ nhân có quân Diến
Điện sang đánh Tiêm La, Nguyễn
Vương cùng với bọn Lê Văn Câu, Nguyễn Văn Thành đem quân bản bộ đi
đánh giúp nước Tiêm. Nguyễn Vương lại có công trừ được những giặc Mã
Lai thường vẫn hay đến quấy nhiễu ở mặt bể. Bởi vậy cho nên nước Tiêm
lại càng trọng đãi vua tôi nhà Nguyễn.
2. Nguyễn Vương Về Lấy Gia Định.
Trong khi Nguyễn Vương
còn phải nương náu ở đất Tiêm La, ông Nguyễn Huệ tiến binh ra Bắc Hà giết
Trịnh Khải, tôn vua Lê, rồi về được phong là Bắc Bình Vương, đóng ở Phú
Xuân. Ông Nguyễn Nhạc xưng là Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn
Lữ làm Đông Định Vương vào giữ đất Gia Định.
Nhưng chẳng được bao lâu, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ không hòa
với nhau. Nguyễn Nhạc đem quân Phú Xuân vào vây thành Quy Nhơn nguy
cấp lắm. Nguyễn Nhạc phải vời
đô
đốc
Đặng Văn Chân đem quân ở Gia
Định ra cứu.
Từ
đó quân thế
của Tây Sơn
ở Gia Định
đã kém, ở các nơi lại có
nhiều đảng theo về chúa Nguyễn, rồi nổi lên đánh phá, làm cho quân Tây
Sơn càng ngày càng khó giữ. Vả trong mấy anh em Tây Sơn chỉ có Nguyễn
Huệ là anh hùng kiệt hiệt hơn cả, mà đã ra chuyên giữ mặt bắc, thì công
việc mặt nam phó mặc Nguyễn Lữ là người tầm thương, cho nên thế Tây
Sơn ở mặt ấy thành ra suy nhược.
Lúc
bấy giờ Nguyễn Vương ở Tiêm La vẫn có người đi về tin tức, biết
có cơ hội lấy được đất Gia Định, mà cũng biết rằng người Tiêm La vẫn không
giúp được cho mình lại còn có bụng ghen ghét: như năm đinh mùi (1787) có
người Bồ Đào Nha đưa quốc thư cho Nguyễn Vương xin đem binh và thuyền
ở thành Goa
134
lại giúp. Vua Tiêm La biết việc
ấy làm không bằng lòng,
Nguyễn Vương phải từ chối và tạ ơn người Bồ Đào Nha.
Đến khi được tin rằng đất Gia Định có thể lấy được, Vương bèn để
thư
lại từ
tạ vua Tiêm La, rồi nửa
đêm
đem vương mẫu và cung quyến
xuống thuyền về nước. Bấy giờ là tháng bảy năm đinh mùi (1787).
Nguyễn Vương đi qua đảo Cổ cốt có người nhà Thanh tên là Hà Hỉ
Văn thuộc về Thiên Địa Hội đem mấy người đến xin theo giúp. Vương về
134
Đất thuộc địa của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ
đến Hà Tiên cho người đưa vương mẫu và cung quyến ra ở Phú Quốc, rồi
cùng mọi người về đóng ở Long Xuyên.
Lúc
bấy giờ Nguyễn Vương đi đến đâu, những người hào kiệt ra theo
rất nhiều lại có tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Trương
đem 300 quân, 15
chiếc thuyền ra hàng. Qua tháng 6, vương vào cửa Cần Giờ, quân thế to
lắm,
Đông
Định Vương Nguyễn Lữ khiếp sợ
để quan thái phó Phạm Văn
Tham ở lại giữ thành Sài Gòn rồi lui về đóng ở Lạng Phụ, thuộc Biên Hòa.
Nguyễn Vương sai người trá làm một cái thư của Nguyễn Nhạc gửI
cho Nguyễn Lữ, trong thư bảo phải giết Phạm Văn Tham đi, rồi vương sai
người giả tảng đưa lầm cho Phạm Văn Tham, Phạm Văn Tham bắt được cái
thơ
ấy sợ hãi, lập tức về
Lạng Phụ
để phân giải tình oan với Nguyễn Lữ,
nhưng Nguyễn Lữ thấy tự nhiên Phạm Văn Tham kéo quân đến, lại có cờ
trắng
đi trước, tưởng là Văn Tham đã hàng nhà Nguyễn rồi, vội vàng bỏ
thành chạy về Quy Nhơn, được ít lâu thì mất.
Phạm Văn Tham trở về giữ thành Gia Định đánh phá được quân nhà
Nguyễn. Nguyễn Vương phải rút quân về miền Mỹ Tho, chỉ còn được 300
quân và vài mươi chiếc thuyền, thế
lực
đã núng lắm. Nhưng nhờ có mộ
thêm được mấy nghìn quân Cao Miên và lại có mấy toán quân Tây Sơn về
hàng, cho nên quân thế mới hơi vững.
Bấy giờ
lại nhờ
có
Võ
Tính
là
tướng giỏi ra giúp, cho nên Nguyễn
Vương lại tiến lên đánh Nước Xoáy, Phạm Văn Tham lùi về đóng ở Ba Thắc.
Võ Tính là người ở Biên Hòa, có người anh tên là Võ Nhân làm thuộc
tướng Đỗ Thanh Nhân. Sau Đỗ Thanh Nhân bị giết, Võ Nhân tụ quân Đông
Sơn làm phản, đánh lại chúa Nguyễn, nhưng chẳng bao lâu cũng bị bắt, phải
giết. Võ Tính mới đem dư đảng Đông Sơn của anh về giữ Vườn Trầu (thuộc
Gia Định), rồi sau lại về đóng ở Gò Công, xưng là Tổng Nhung, thủ hạ có
mấy vạn người, quân Tây Sơn đã bị đánh phá nhiều lần, thường nói rằng:
"Trong bọn tam hùng đất Gia Định, Võ Tính là anh hùng bậc nhất, không
nên phạm đến". Khi Nguyễn Vương ở Tiêm La về có sai Nguyễn Đức Xuyên
đến dụ Võ Tính về giúp. Đến khi Nguyễn Vương về đóng ở Nước Xoáy, Võ
Tính đem bộ hạ đi đuổi đánh Phạm Văn Tham, rồi đến tháng tư năm mậu
thân (1788) mới đem Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần
Văn Tín đến hành tại bái kiến Nguyễn Vương. Nguyễn Vương mừng rỡ,
phong cho làm Tiền Phong Dinh Chưởng Cơ và lại gả cho bà Ngọc Du Công
Chúa là em gái. Bọn Võ Văn Lượng đều được phong làm cai cơ.
Qua tháng 7 năm ấy (1788) Nguyễn Vương đem quân về đóng ở Ba
Giồng, rồi sai Tôn Thất Hội và Võ Tính đem binh vào đánh quan đốc chiến
Tây Sơn là Lê Văn Minh ở đồn Ngũ Kiều, đốt phá cả đồn trại, bắt được tướng
sĩ rất nhiều. Lại có tướng là Nguyễn Văn Nghĩa phá được quân Tây Sơn ở
Lộc Dã (tức là Đồng Nai). Tháng tám thì Nguyễn Vương vào thành Gia Định,
chiêu yên trăm họ, sửa sang phép tắc và phong thưởng cho các tướng sĩ.
Bấy giờ quan thái bảo Tây Sơn là Phạm Văn Tham vẫn đóng ở Ba
Thắc; vương sai giữ các cửa bể không cho quân Tây Sơn chạy thoát, rồi sai
Nguyễn Văn Nhàn sang Tiêm La báo tiệp; sai Nguyễn Văn Nhân và Trương
Phúc Giáo ra Phú Quốc đón vương mẫu và cung quyến về Gia Định.
Sang
năm kỷ
dậu (1789) Phạm Văn Tham ở Ba Thắc
đem binh
xuống thuyền định ra bể về Quy Nhơn, nhưng Nguyễn Vương đã sai Lê Văn
Câu (còn gọi Duân), Tôn Thất Hội, Võ Tính, Nguyễn Văn Trương hợp binh lại
đánh ở Hỗ Châu, quân Phạm Văn Tham không phá được vây, lại phải lui về
Ba Thắc. Văn Tham chờ không thấy viện binh, liệu thế giữ không nổi, bèn
đem binh ra hàng, được ít lâu bị tội phải giết.
Từ đó toàn đất Gia Định thuộc về chúa Nguyễn cả.
3. Nguyễn Vương Sửa Sang Mọi Việc ở Gia Định.
Nguyễn
Vương thu phục được đất Gia Định rồi, lập ra luật pháp, khôNg cho dân gian
đánh cờ bạc, lại nghiêm cấm phù thủy và đồng bóng để giữ phong tục cho
khỏi sự mê hoặc.
Trước hết vương lo chỉnh
đốn những việc thuế khóa, việc canh
nông, để lấy lương tiền nuôi tướng sĩ và tu bổ việc vũ bị. Lại đặt ra các sở
công đồng để các quan văn võ hội nghị mọi việc quốc quân, và lo sự tiến
binh đánh Tây Sơn.
4. Việc Khai Khẩn Điền Thổ.
Đất Gia Định lúc bấy giờ chi ra làm 4
doanh là: Phiên Trấn, Trấn Biên, Trấn Vĩnh, và Trấn Định, nhưng vì phải loạn
lạc mãi, dân sự đói khổ, ruộng đất bỏ hoang, lương thực không đủ. Nguyễn
Vương bèn sai văn thần là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Chu,
Hoàng Minh Khánh cả thảy là 12 người làm điền tuấn quan để khuyên nhủ
quân dân cố sức làm ruộng. Từ lính phủ binh cho đến người cùng cố đều
bắt phải làm ruộng cả. Hễ ai không chịu thì bắt phải làm lính để thay cho
phủ binh.
162
Đến mùa lúa chín, thì cứ mỗi người cày ruộng đồng bằng phải nộp
100 cơ
135
, mà ai cày ruộng núi thì phải nộp 60 cơ trở lên. Ai nộp đủ lệ ấy,
như phủ binh thì được miễn cho một năm không phải đi đánh giặc, mà dân
đinh thì được miễn cho một năm giao dịch. Ai không nộp đủ thì không được
dự vào lệ miễn ấy.
Lại mộ những dân ở các nơi đến làm ruộng, gọi là điền tốt. Quan
điền tuấn lấy ruộng đất bỏ hoang cấp cho để cày cấy. Ai không có đủ trâu
bò mà cày bừa, thì quan cũng cấp cho, rồi đến mùa phải trả bằng thóc.
Nguyễn Vương lại phát trâu bò và điền khí cho quân dân, bắt đi khai
khẩn những nơi rừng núi để làm ruộng gọi là đồn điền, rồi đến mùa lấy thóc
để vào kho, gọi là đồn điền khố.
Các quan văn võ đều phải mộ người lập thành đội, gọi là đồn điền
đội, mỗi năm mỗi người phải nộp 6 hộc thóc. Còn dân mà ai mộ được 10
người trở lên, thì cho làm cai trại và được trừ sưu tịch.
Cách
Nguyễn Vương khai khẩn đất Gia Định thật là khôn khéo, khiến
cho đất Nam Việt trước là một chỗ đất bỏ hoang, không có người ở, mà sau
thành ra một nơi rất đông người và rất trù phú trong nước Nam ta. Ấy cũng
là một cái công lớn của ông Nguyễn Phúc Ánh vậy.
5. Việc Buôn Bán.
Nguyễn Vương lập lệ: phàm những thuyền của
khác mà có chỡ những đồ gang, sắt, kẽm và lưu hoàng, thì quan mua để
làm binh khí, và cho cứ theo số hàng nhiều ít, được chở thóc gạo về nước.
Bởi vậy những khách buôn bán cũng vui lòng đem đồ hàng đến bán. Vương
lại sai quan ở doanh Trấn Biên cứ theo giá chợ mà mua lấy đường cát để đổi
cho những người Tây Dương mà lấy đồ binh khí.
6. Ông Bá Đa Lộc và Hoàng Tử Cảnh ở Pháp về.
Từ mùa
đông năm giáp thìn (1784), ông Bá Đa Lộc đem Hoàng Tử Cảnh cùng với
Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm xuống tàu sang Tây; đi qua Ấn
Độ
Dương và thành Phong ti thê ri (Pondichéry) đất Ấn Độ, ở lại gần 20 tháng,
rồi đến mùa xuân năm đinh mùi (1787), thì chiếc tàu chở ông Bá Đa Lộc mới
vào cửa Lorient ở phía tây nước Pháp Lan Tây.
Ông
Bá
Đa Lộc đưa Hoàng Tử Cảnh vào yết kiến Pháp Hoàng Louis
XVI. Pháp Hoàng lấy vương lễ tiếp đãi Hoàng Tử, và giao cho thượng thư
135
Mỗi một cơ là 42 bát.
ngoại giao bộ là De Montmorin Bá Tước, thương nghị với ông Bá Đa Lộc việc
sang giúp Nguyễn Vương.
Đến ngày 28 tháng 11 năm 1787 thì ông Bá Đa Lộc và De
Montmorin bá tước ký tờ giao ước, đại lược nói rằng:
1. Vua nước Pháp thuận giúp cho Nguyễn Vương 4 chiếc tàu chiến
và một đạo binh: 1.200 lục quân, 200 pháo binh, 250 hắc binh ở
Phi Châu (Cafres) và đủ các thứ súng ống thuốc đạn.
2.
Vì vua nước Pháp có lòng giúp như thế, Nguyễn Vương phải
nhường đứt cho nước Pháp cửa Hội An (Faifo) và đảo Côn Lôn
(Poulo-Condore).
3. Nguyễn Vương phải để cho người nước Pháp ra vào buôn bán tự
do
ở trong nước, ngoại giả không cho người nước nào ở Âu
Châu sang buôn bán ở nước Nam nữa.
4.
Khi nào nước Pháp có cần đến lính thủy, lính bộ, lương thực, tàu
bè ở phương đông, thì Nguyễn Vương phải ứng biện cho đủ giúp
nước Pháp.
5. Khi Nguyễn Vương đã khôi phục được nước rồi, thì phải cứ mỗi
năm làm một chiếc tàu, y như tàu của nước Phám đã cho sang
giúp, để đem sang trả cho Pháp Hoàng
136
.
Tờ giao ước ký xong rồi, Pháp Hoàng xuống chiếu giao cho quan
tổng trấn thành Pondichéry ở đất Ấn Độ, tên là De Conway bá tước, kinh lý
việc sang giúp Nguyễn Vương.
Ngày mồng 8 tháng chạp tây, năm 1787, ông Bá Đa Lộc vào bái tạ
Pháp Hoàng Louis XVI, rồi
đem Hoàng Tử
Cảnh xuống tàu về
nước Nam.
Nhưng đến khi sang tới thành Pondichéry, vì De Conway bá tước có chuyện
bất hòa với ông Bá Đa Lộc, cho nên bá tước mới tìm cách ngăn trở việc giúp
Nguyễn Vương, rồi làm sớ về tâu Pháp Hoàng xin bãi việc ấy đi, lấy cớ rằng
sự đem binh sang cứu viện Nguyễn Vương là việc rất khó mà không có lợi gì.
Pháp
Đình thấy sớ của De Conway bá tước nói như vậy cũng
lấy làm nản; vả lại lúc bấy giờ chính phủ còn đang bối rối về việc trong nước
dân cách mệnh
đã rục rịch cả
mọi nơi, cho nên bỏ việc ấy không nói đến
nữa.
Ấy cũng vì có De Conway bá tước, cho nên việc sang cứu viện
Nguyễn Vương không thành, bởi vậy sau ông Faure chép truyện ông Bá Đa
136
Tờ giao ước này hiện còn ở Ngoại Giao Bộ ở Paris, và đã biên rõ ở sách ông Gosselin.
163
Lộc, có tiếc rằng: "Ví bằng lúc bấy giờ chính phủ nước Phám mà sẵn lòng
giúp ông Bá Đa Lộc, thì có lẽ ông ấy đã lập nên cho nước Pháp thành cuộc
bảo hộ ở An Nam ngay từ cuối đời thập bát thế kỷ, khiến cho về sau khỏi
phải dùng đến sự chiến tranh mới xong công việc".
Ông Bá Đa Lộc thấy De Conway bá tước không chịu xuất binh
thuyền, bèn đứng lên đi mộ người, mua tàu và súng ống khí giới để đem
sang giúp Nguyễn Vương.
Đến tháng 6 năm kỷ dậu (1789), ông Bá Đa Lộc và hoàng tử Cảnh đi
chiếc tàu chiến Méduse về đến Gia Định. Các tàu buôn chở súng ống thuốc
đạn cũng lục tục sang sau.
Bấy giờ những người Pháp tên là Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng),
túc là chúa tàu Long, Vannnier, (Nguyễn Văn Chấn), tức là chúa tàu Phụng,
De Forcant (Lê Văn Lăng), Victor Ollivier (ông Tín), Dayot v.v... cả thảy đến
non 20 người theo ông Bá Đa Lộc sang giúp Nguyễn Vương; vương phong
quan tước cho cả
mọi người
để luyện tập quân sĩ, làm tàu, đúc súng, và
chỉnh đốn mọi việc vũ bị.
Từ đó, thế lực của Nguyễn Vương mỗi ngày một mạnh, tướng tá mỗi
ngày một đông, lương thực nhiều, quân sĩ giỏi, việc đánh phá Tây Sơn đã
chắc lắm rồi.
Tháng tư năm tân hợi (1791), bà thứ phi sinh ra hoàng tử thứ tư lên
là
Đảm, tức là vua Thánh Tổ
ở làng Tân Lộc, gần Sài Gòn bây giờ. Đến
tháng ba năm quý sửu (1793), thì vương lập hoàng tử Cảnh làm Đông Cung,
phong chức nguyên súy, lĩnh tả quân doanh.
7. Nguyễn Vương
Đánh Quy Nhơn Lần Thứ Nhất.
Nguyễn Vượng đã khôi phục được đất Gia Định rồi, nghỉ ngơi hơn một năm
để chỉnh đốn mọi việc. Đến tháng tư năm canh tuấn (1790) mới sai quan
chưởng tiền quân là Lê Văn Câu đem 5.000 quân thủy và quân bộ ra đánh
lấy Bình Thuận, sai Võ Tính và Nguyễn Văn Thành đem quân đi làm tiên
phong. Chẳng bao lâu nhà Nguyễn lấy được đất Phan Rí và hạ được thành
Bình Thuận. Nhưng vì Lê Văn Câu và Võ Tính hai người không chịu nhau,
Nguyễn Vương bèn lưu Lê Văn Câu ở
lại giữ Phan Rí, triệu Võ Tính và
Nguyễn Văn Thành về Gia Định. Lê Văn Câu đem quân ra đóng
ở Phan
Rang bị quân Tây Sơn
đến vây đánh, phải cho người
đi gọi Võ Tính và
Nguyễn Văn Thành trở
lại cứu, nhưng Võ Tính không chịu trở
lại, chỉ có
Nguyễn Văn Thành đưa binh đến đánh giải vây rồi cùng Lê Văn Câu về giữ
Phan Rí.
Lê Văn Câu lấy điều bại binh ấy làm thẹn, xưng bệnh không ra coi
việc binh nữa. Đến khi về Gia Định nghị tội phải cách hết chức tước, Lê Văn
Câu uống thuốc độc tự tử
137
.
Quân nhà Nguyễn ra đánh Tây Sơn lần ấy không lợi; vả bấy giờ là
mùa tháng 7, gió bắc thổi mạnh, cho nên Nguyễn Vương truyền rút quân về
Gia
Định
để
đợi mùa gió thuận thì mới
đem quân đi
đánh nhau, cho nên
người đời bấy giờ gọi là giặc mùa.
Năm nhâm tí (1792) tháng ba, nhân khi mùa gió nam thổi mạnh,
Nguyễn Vương sai tướng là Nguyễn Văn Trương cùng với Nguyễn Văn
Thành, Dayot và Vannier (Nguyễn Văn Chấn) đem chiến thuyền từ cửa Cần
Giờ ra đốt phá thủy trại của Tây Sơn ở cửa Thị Nại (cửa Quy Nhơn) rồi lại về.
Tháng ba năm quý sửu (1793) Nguyễn Vương để Đông Cung ở lại
giữ đất Gia Định, sai Tôn Thất Hội cùng Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn
Thành đem bộ binh ra đánh Phan Rí. Nguyễn Vương cùng với Nguyễn Văn
Trương và Võ Tính đem thủy sư đi đánh mặt bể. Đến tháng năm thì chiến
thuyền của Nguyễn Vương vào cửa bể Nha Trang rồi lên đánh lấy phủ Diên
Khánh và phủ Bình Khang, sau lại ra đánh lấy phủ Phú Yên.
Mặt thủy, Nguyễn Vương được toàn thắng, còn mặt bộ, thì Tôn Thất
Hội chỉ lấy được phủ Bình Thuận mà thôi. Vương bèn sai người đưa thư giục
Tôn Thất Hội phải kíp tiến binh lên hội với thủy sư, để hai mặt cùng ra đánh
Quy Nhơn.
Khi quân của Nguyễn Vương vào cửa Thị
Nại, vua Tây Sơn là
Nguyễn Nhạc sai thái tử là Nguyễn Bải,
đem binh ra chống giữ. Nguyễn
Vương bèn mật sai Võ Tính đem binh lẻn đi hội với toán quân Tôn Thất Hội
và Nguyễn Văn Thành để đánh tập hậu. Quân của Nguyễn Bảo bị hai mặt
đánh lại, chống không nổi, phải bỏ chạy về Quy Nhơn. Từ đó quân thủy và
quân bộ của Nguyễn Vương tương thông được với nhau. Vương bèn sai Tôn
Thất Hội, Võ Tính, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành đem binh tiến lên
đánh thành Quy Nhơn.
Nguyễn Nhạc phải sai người ra cầu cứu ở Phú Xuân.
Bấy giờ vua Quang Trung đã mất rồi, vua Cảnh Thịnh, tức là Nguyễn
Quang Toản, sai quan thái úy là Phạm Công Hưng, quan hộ giá là Nguyễn
137
Lê Văn Câu là một người công thần đã theo phò Nguyễn chủ trong lúc gian nan, nay cũng
bất đắc kỳ tử.
164
Văn Huấn, quan đại tư lệ là Lê Trung và quan đại tự mã là Ngô Văn Sở đem
17.000 bộ binh và 80 con voi đi
đường bộ, và sai quan đại thống lĩnh là
Đặng Văn Chân đem hơn 30 chiếc thuyền đi đường bể, cả hai đạo cùng tiến
vào cứu Quy Nhơn.
Nguyễn Vương thấy viện binh đã đến, liệu thế chống không nổi, rút
quân về Diên Khánh (tức là Khánh Hòa bây giờ) rồi về Gia Định. Để Nguyễn
Văn Thành ở lại giữ Diên Khánh, Nguyễn Huỳnh Đức ở lại giữ Bình Thuận.
Đến tháng 11, Nguyễn Vương lại sai Đông Cung Cảnh và ông Bá Đa
Lộc, Phạm Văn Nhân, Tống Phúc Khê ra giữ thành Diên Khánh.
8. Thế Lực Tây Sơn.
Bọn Phạm Công Hưng giải được vây rồi, kéo
quân vào thành Quy Nhơn, chiếm giữ lấy thành trì và tịch biên cả các kho
tàng.
Nguyễn Nhạc thấy vậy, tức giận đến nỗI thổ huyết ra mà chết. Ông
làm vua được 16 năm.
Vua
Cảnh Thịnh ở Phú Xuân thấy Nguyễn Nhạc mất rồi, phong cho
Nguyễn Bảo làm Hiến Công, cho ăn lộc một huyện, gọi là tiểu triều rồi để Lê
Trung và Nguyễn Văn Huấn ở lại giữ thành Quy Nhơn.
Từ đó các tướng Tây Sơn mới hoạt động hơn trước. Tháng ba năm
giáp dần (1794) Nguyễn Văn Hưng đem bộ binh vào đánh Phú Yên, và Trần
Quang Diệu vào vây thành Diên Khánh.
Đông Cung Cảnh cho người về Gia Định cầu viện, NguyễN Vương
bèn đem đại binh đến đánh giải vây. Trần Quang Diệu rút quân về.
Nguyễn Vương thấy thế Tây Sơn còn mạnh và lại đến mùa gió bắc,
cho nên vương đem Đông Cung về Gia Định; để Võ Tính ở lại giữ thành Diên
Khánh.
Tháng giêng năm ất mão (1795) Trần Quang Diệu lại đem quân vào
đánh Diên Khánh, Võ Tính hết sức chống giữ, Quang Diệu đánh mãi không
được. Đến tháng hai, Nguyễn Vương để Đông Cung ở lại giữ Gia Định, đem
thủy sư ra cứu Diên Khánh.
Trong khi hai bên còn đang chống giữ nhau ở đất Diên Khánh, thì ở
Phú Xuân các quan đại thần nhà Tây Sơn giết hại lẫn nhau, gây thành mối
loạn.
Nguyên
từ khi vua Quang Trung mất rồi, vua Cảnh Thịnh lên ngôi,
nhưng quyền về
cả Thái sư Bùi Đắc Tuyên, các quan có nhiều người oán
giận. Năm ất mão (1795) Bùi Đắc Tuyên sai Ngô Văn Sở ra Bắc hà thay cho
Vũ
Văn Dũng. Văn Dũng về Phú Xuân, đi
đến trạm Hoàng Giang
138
gặp
quan trung thư lệnh là Trần Văn Kỷ phải tội đày ra ở đấy. Văn Kỷ nhân đang
căm tức Bùi Đắc Tuyên, bèn xui Vũ Văn Dũng rằng: "Thái sư ngôi trùm cả
nhân thần, cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết; nếu mà không sớm
trừ đi, thì rồi có chuyện bất lợi cho nhà nước. Ông nên liệu sớm đi".
Vũ Văn Dũng xưa nay vẫn tin trọng Văn Kỷ, nay thấy nói như vậy,
bèn nghe lời ấy, về mưu với Phạm Công Hưng và Nguyễn Văn Huấn, lừa đến
đêm
đem quân vây nhà Bùi Đắc Tuyên bắt bỏ ngục, rồi sai Nguyễn Văn
Huấn vào Quy Nhơn bắt con Đắc Tuyên là Bùi Đắc Trụ, và cho người đưa
thư ra Bắc Hà truyền cho quan tiết chết là Nguyễn Quang Thùy (em Nguyễn
Quang Toản) bắt giải Ngô Văn Sở về Phú Xuân.
Bọn Vũ
Văn Dũng bèn đặt chuyện ra vu cho nhữNg người
ấy làm
phản,
đem dìm xuống sông giết
đi. Vua Cảnh Thịnh không sao ngăn giữ
được, chỉ gạt nước mắt khóc thầm mà thôi.
Lúc
bấy giờ Trần Quang Diệu đang vây thành Diên Khánh, nghe tin
ấy, thất kinh, nói với các tướng rằng: "Chúa thượng không phải là người
cứng cỏi, để cho đại thần giết lẫn nhau. Nếu trong mà không yên, thì ngoài
đánh người ta thế nào được?"
Quang
Diệu bèn giải vây rút quân về. Khi về
đến Quy Nhơn,
Nguyễn Văn Huấn đến tạ tội trước. Trần Quang Diệu không hỏi đến, rồi dẫn
quân về đến làng An cựu đóng bên bờ sông mé nam.
Vũ Văn Dũng cùng với nội hậu Tứ cũng đem quân bản bộ ra đóng ở
mé bắc bờ sông, ỷ mệnh vua ra cự nhau với Trần Quang Diệu.
Vua
Cảnh Thịnh sợ hãi sai quan ra khuyên giải cả hai bên, Trần
Quang Diệu mới đem các tướng vào chầu, rồi với bọn Vũ Văn Dũng giảng
hòa.
Từ đó Trần Quang Diệu làm thiếu phó, Nguyễn Văn Huấn làm thiếu
bảo, Vũ Văn Dũng làm đại tư đồ, Nguyễn Văn Danh (hay là Nguyễn Văn Tứ)
làm đại tư mã, gọi là tứ trụ đại thần. Nhưng chẳng được bao lâu có người
138
Có nơi chép là trạm Hán Xuyên
165
gièm pha, Trần Quang Diệu bị thu hết cả binh quyền, chỉ được giữ chức tại
trièu mà thôi. Thế lực Tây Sơn từ đấy về sau mỗi ngày một kém: trên vua
thì còn nhỏ dại, không có đủ uy quyền để sai khiến các quan, dưới tướng tá
thì vì lòng ghen ghét rồi cứ tìm cách mà giết hại lẫn nhau. Bởi vậy cho nên
đến khi quân Nguyễn Vương ở Nam ra đánh, chẳng phải mất bao nhiêu công
phu mà lập nên công lớn vậy.
9. Nguyễn Vương Đánh Quy Nhơn Lần Thứ Hai.
Từ khi
quân của Trần Quang Diệu giải vây Diên Khánh về Phú Xuân rồi, Nguyễn
Vương cũng rút quân về Gia Định sửa soạn việc quân lương, và sai người đi
do thám mọi nơi để chiêu mộ người về đánh Tây Sơn.
Đến năm đinh tị (1797) Nguyễn Vương để Tôn Thất Hội ở lại giữ Gia
Định, rồi cùng Đông Cung Cảnh đem binh thuyền ra đánh Quy Nhơn. Lại sai
Nguyễn Văn Thành và Võ Tính ra đánh Phú Yên.
Quân
thủy của Nguyễn Vương ra đến Quy Nhơn, thấy Tây Sơn đã
phòng bị, liệu
đánh không đổ
được, Nguyễn Vương bèn ra đánh Quảng
Nam. Được vài tháng quân nhu không đủ, lại phải đem quân về Gia Định,
sai Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường ở lại giữ thành Diên Khánh.
10. Nguyễn Vương Đánh Quy Nhơn Lần Thứ Ba.
Nguyễn
Vương về Gia Định rồi, một mặt sai Nguyễn Văn Thụy sang Tiêm La xin với
quốc vương nước ấy đem quân đi đường Vạn Tượng, hoặc sang đánh Thuận
Hóa, hoặc sang đánh Nghệ An, để chận đường quân ở Bắc hà vào. Một mặt
sai quan binh bộ tham tri là Ngô Nhân Tĩnh sang sứ nhà Thanh, để do thám
mọi việc.
Năm mậu ngọ (1798) Tiểu triều là Nguyễn Bảo căm tức vua Cảnh
Thịnh là Nguyễn Quang Toản chiếm giữ mất đất Quy Nhơn, bèn định bỏ về
hàng Nguyễn Triều. Vua Cảnh Thịnh biết mưu ấy, sai tướng vào bắt Nguyễn
Bảo đưa về dìm xuống sông giết đi.
Lại có người nói gièm rằng việc Tiểu Triều làm phản là tại quan trấn
thủ Lê Trung. Vua Cảnh Thịnh triệu Lê Trung về Phú Xuân, sai võ sĩ
bắt
chém đi. Được ít lâu quan thiếu phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết. Từ đó
quân Tây Sơn ai cũng nản lòng, có nhiều người bỏ theo về Nguyễn Vương.
Bấy giờ có người con rễ Lê Trung là Lê Chất vốn là người đánh trận
giỏi có tiếng, quan làm đến chức đại đô đốc; đến khi thấy vua Tây Sơn hay
nghi kỵ mà giết hại các công thần như
vậy, bèn bỏ trốn sang hàng nhà
Nguyễn. Nguyễn Vương trọng dụng cho làm chức Tướng Quân.
Nguyễn Vương thấy thế Tây Sơn đã suy nhược, đến tháng ba năm
kỷ mùi (1799) bèn củ đại binh ra đánh Quy Nhơn. Đến tháng tư thủy quân
của Nguyễn Vương vào cửa Thị Nại, rồi Nguyễn Vương sai quan hậu quân Võ
Tính, hữu quân Nguyễn Huỳnh
Đức
đem quân lên bộ
đóng
ở Trúc Khê.
Ngay lúc bấy giờ quan Khâm sai tiền quân chưởng cơ Nguyễn Văn Thành
đem bộ binh ra đánh lấy Phú Yên, rồi tiến quân lên tiếp ứng cho toán quân
Võ Tính.
Đến tháng năm, thì quân của Nguyễn Vương
đến vây thành Quy
Nhơn. Ở Phú Xuân sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đm binh vào cứu.
Nhưng mà vào đến Quảng Nghĩa gặp quân của Nguyễn Văn Thành giữ
ở
Thạch Tân, cho nên không cứu được Quy Nhơn.
Sử chép rằng khi đạo quân của Vũ
Văn Dũng vào đến Chung Xá,
đóng lại ở đấy, đến đêm có con nai ở trong rừng chạy ra, có người trông
thấy kêu to lên rằng: Con nai! Quân Tây Sơn nghe lầm là quân Đồng Nai!
Mọi người luống cuống bỏ chạy. Các quân đội Tây Sơn tưởng là quân nhà
Nguyễn đã vây đánh, đều vỡ tan cả. Quân nhà Nguyễn thừa thế đánh đuổi,
thành ra quân Tây Sơn thua to.
Quan
trấn thủ Quy Nhơn là Lê Văn Thanh không thấy viện binh đến,
mà lương thực
ở trong thành thì hết cả, bèn cùng các tướng mở
cửa ra
hàng. Nguyễn Vương đem quân vào thành rồi đổi tên Quy Nhơn gọi là Bình
Định.
Vua Tây Sơn được tin Quy Nhơn thất thủ, liền cử đại binh vào đóng
ở Trà Khúc (thuộc Quảng Nghĩa) để đốc các tướng tiến binh đánh quân nhà
Nguyễn. Nhưng vì phải độ trái mùa gió, thủy chiến không tiện, cho nên các
quan đều can xin rút quân về. Vua Cảnh Thịnh bèn sai Nguyễn Văn Giáp ở
lại giữ Trà Khúc, sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng giữ Quảng Nam.
Nguyễn Vương cũng đem quân về Gia Định, để Võ Tính và Ngô Tòng
Chu ở lại giữ thành Bình Định. Năm ấy (1899) ông Bá Đa Lộc đi tòng chinh,
mất ở cửa Thị Nại. Nguyễn Vương đem về hậu táng ở Gia Định, tặng phong
làm Thái Tử Thái Phó Bi Nhu Quận Công.
11. Quân Tây Sơn Vây Thành Bình Định.
Khi
quân
nhà
Nguyễn ra vây đánh thành Quy Nhơn, vua Tây Sơn sai Trần Quang Diệu và
Vũ Văn Dũng đem binh vào cứu, nhưng vì quân cuả Văn Dũng không đánh
166
mà tan, đến nỗi bại binh. Việc
ấy là tội Văn Dũng, nhưng nhờ có Quang
Diệu giấu đi, cho nên không ai biết. Văn Dũng cảm ơn ấy, cho nên mới kết
nghĩa sinh tử với Quang Diệu.
Bấy giờ ở Phú Xuân có nhiều người ghét Quang Diệu, nhân dịp ấy
mà đổ tội cho Quang Diệu, bèn tâu vua xin sai người đưa mật thư ra cho Vũ
Văn Dũng để giết Quang Diệu. Vũ Văn Dũng tiếp được thư ấy đưa cho Trần
Quang Diệu xem. Trần Quang Diệu sợ hãi, lập tức đem quân về Phú Xuân,
đóng ở mé nam sông Hương Giang, nói rằng về bắt những người loạn thần.
Vua Tây Sơn sai người ra giảng hòa. Không ai dám đi, sau phải bắt mấy
người nộp cho Quang Diệu. Quang Diệu mới vào chầu. Vua Cảnh Thịnh
cũng tìm lời giảng dụ, khuyên phải hết sức giúp đỡ nhà nước.
Quang
Diệu khóc lạy rồi xin cùng Văn Dũng đem thủy bộ quân vào
lấy lại thành Quy Nhơn.
Đến tháng giêng năm canh thân (1800), quân của Trần Quang Diệu
và Vũ Văn Dũng tiến đến gần thành Quy Nhơn. Võ Tính giữ vững, không ra
đánh. Quang Diệu sai đắp lũy chung quanh thành và chia quân ra vây bốn
mặt. Văn Dũng thì đem hai chiếc tàu lớn và hơn 100 chiến thuyền ra đóng
giữ cửa Thị Nại, xây đồn và đặt súng đại bác ở hai bên cửa bể, để phòng
ngự thủy quân nhà Nguyễn.
Nguyễn Vương được tin quân Tây Sơn ra vây thành Bình Định, liền
cử đại binh ra cứu viện, sai Nguyễn Văn Thành đem Lê Chất, Nguyễn Đình
Đắc, Trương Tiến Bảo, chia ra làm ba đạo ra đánh lấy đồn Hội An ở Phú Yên,
rồi kéo ra đánh ở Thị Dã (thuộc Bình Định). Nguyễn Vương đem thủy binh
ra đến Quy Nhơn đóng thuyền ở ngoài cửa Thị Nại. Bấy giờ quân bộ của
Nguyễn Văn Thành và quân thủy của Nguyễn Vương không thông được với
nhau, cho nên sự cứu viện không có công hiệu gì cả.
Đến tháng giêng năm tân dậu (1801), Nguyễn Vương sai Nguyễn
Văn Trương, Tống Phúc Lương đem quân tiền đạo đến đánh đồn thủy của
Tây Sơn, và sai Lê Văn Duyệt, Vũ Di Nguy đem thủy quân vào đánh cửa Thị
Nại. Vũ Di Nguy trúng đạn chết, còn Lê Văn Duyệt ra sức xông đột,
đốt
được cả tàu và thuyền của Tây Sơn.
Tướng Tây Sơn là Vũ
Văn Dũng phải bỏ
cửa Thị
Nại
đem binh về
hợp với Trần Quang Diệu để phòng giữ mọi nơi.
Nguyễn Vương lấy được cửa Thị Nại rồi, cho người đưa tin về Gia
Định báo cho tướng sĩ các nơi đều biết.
Năm ấy Đông Cung Cảnh lên đậu, mất ở Gia Định, thọ được 22 tuổi.
Được một tháng hoàng tử thứ hai tên là Hi cũng mất ở Diên Khánh, đem về
táng ở Gia Định.
12. Nguyễn Vương Thu Phục Phú Xuân.
Nguyễn Vương
đánh
được trận thủy
ở Thị
Nại rồi, bèn sai Nguyễn Văn Trương
đem thủy
quân ra đánh Quảng Nam, Quảng Nghĩa, và lại thấy quân Tây Sơn vây thành
Quy Nhơn một cách cẩn mật lắm, đánh phá không được. Vương cho người
lẻn vào thành bảo Võ Tính và Ngô Tòng Chu bỏ thành mà ra. Nhưng Võ
Tính phúc thư lại rằng: quân tinh binh của Tây Sơn ở cả Quy Nhơn, vậy xin
đừng lo việc giải vây vội, hãy nên kíp ra đánh lấy Phú Xuân thì hơn.
Nguyễn Vương bèn để Nguyễn Văn Thành ở lại chống giữ với Trần
Quang Diệu và Vũ Văn Dũng, rồi đem đại quân ra đánh Phú Xuân.
Bấy giờ nhà Tây Sơn cũng bối rối lắm: ở Nghệ An thì có tướng nhà
Nguyễn là Nguyễn Văn Thụy và Lưu Phúc Tường đem quân Vạn Tượng sang
đánh phá; ở Thanh Hóa thì có phiên thần là Hà Công Thái khởi binh giúp nhà
Nguyễn; ở Hưng Hóa thì có thổ ti là Phan Bá Phụng nổi lên quấy nhiễu. Còn
các trấn ở Bắc Hà thì rối vì những việc tông giáo; các đạo trưởng và đạo đồ
đạo Thiên Chúa cũng nổi lên, có ý giúp nhà Nguyễn; dân tình thì bị quan
quân nhũng lạm hà hiếp, ai ai cũng có lòng oán giận. Ở Phú Xuân, vua thì
hèn, các quan đại thần thì cứ ghen ghét nhau rồi tìm kế giết hại lẫn nhau,
việc chính trị không sửa sang gì cả. Bởi vậy nhân dân đều mong mỏi chúa
Nguyễn, cho nên có câu hát rằng: "Lạy trời cho chóng gió nồm, để cho chúa
Nguyễn giong buồm thẳng ra".
Nguyễn Vương thấy lòng người đã không theo Tây Sơn nữa, bèn
đem binh ra đánh Phú Xuân, đến tháng năm (1801), thủy sư vào cửa Tư
Dung. Tướng Tây Sơn là phò mã Nguyễn Văn Trị đem quân ra lập đồn giữ ở
núi Quy Sơn. Tiền quân nhà Nguyễn đánh không được. Nguyễn Vương sai
Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem thủy binh ra đánh tập hậu. Nguyễn Văn Trị
bỏ đồn mà chạy. Quân Nguyễn Vương vào cửa Nguyễn Hải (cửa Thuận An)
rồi kéo lên đánh thành Phú Xuân. Vua Tây Sơn phải ngự giá đem quân ra
chống giữ, hai bên đánh nhau đến giữa trưa, thì quân Tây Sơn vỡ tan. Quân
Nguyễn Vương tiến lên đuổi đánh, thu phục được đô thành. Bấy giờ là ngày
mồng 3 tháng 5 năm tân dậu (1801).
Nguyễn Vương vào thành Phú Xuân treo biển yên dân, rồi sai Lê
Chất
đem bộ binh đuổi
đánh quân Tây Sơn, sai Nguyễn Văn Trương
đem
thủy binh ra chặn ở Linh Giang, để đánh quân Tây Sơn chạy ra Bắc. Lại sai
Phạm Văn Nhân ra giữ cửa Nguyễn Hải, sai Lưu Phúc Tường đem quân đi
167
đường Cam Lộ sang Vạn Tượng truyền bảo các Mường giữ
đường yếu lộ
không cho quân Tây Sơn chạy tràn sang.
13. Võ Tính Tử Tiết.
Trần Quang Diệu và Vũ
Văn Dũng
đang vây
đánh thành Quy Nhơn, được tin Phú Xuân thất thủ, liền sai tướng đem quân
ra cứu, nhưng ra đến Quảng Nam, gặp quân của Lê Văn Duyệt kéo vào đánh
chặn
đường, quân Tây Sơn phải lùi trở
lại. Từ
đó Trần Quang Diệu ngày
đêm hết sức đốc quân đánh thành. Quân Nguyễn Vương ở trong thành hết
cả lương thực, không thể chống giữ được nữa, quan trấn thủ là Võ Tính bèn
viết thư sai người
đưa ra cho Trần Quang Diệu nói rằng: "Phận sự ta làm
chủ tướng, thì đành liều chết ở dưới cờ. Còn các tướng sĩ không có tội gì,
không nên giết hại".
Đoạn rồi sai người lấy rơm cỏ chất
ở
dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc
súng vào tự đốt mà chết. Quan hiệp trấn là Ngô Tùng Chu cũng uống thuốc
độc tự tử.
Trần Quang Diệu vào thành Quy Nhơn tha cho cả bọn tướng sĩ và
sai làm lễ liệm táng Võ Tính và Ngô Tòng Chu, rồi sai đại
đô
đốc Trương
Phúc Thượng và tư khấu Định, đem binh đi đường thượng đạo ra đánh Phú
Xuân. Đi
được nửa
đường thì quân hết lương. Trương Phúc Thượng về
hàng nhà Nguyễn, còn tư khấu
Định thì đánh thua chạy vào chết
ở trong
Mường. Trần Quang Diệu lại sai Lê Văn
Điềm vào đánh Phú Yên, cũng
không được.
Bấy giờ Trần Quang Diệu tuy đã lấy được thành Quy Nhơn, nhưng
một mặt thì có quân của Lê Văn Duyệt và Lê Chất
ở Quảng Nam, Quảng
Nghĩa
đánh vào, một mặt thì quân của Nguyễn Văn Thành ở
cửa Thị
Nại
đánh lên, còn ở phía nam, lại có quân của Tống Viết Phúc và Nguyễn Văn
Tính ở Phú Yên đánh ra. Ba mặt thụ địch, quân Tây Sơn phải hết sức chống
giữ, để chờ quân ở Bắc Hà vào cứu viện.
11. Trận Trấn Ninh.
Từ khi thất thủ Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh ngày
đêm kíp ra Bắc Hà, đổi niên hiệu là Bảo Hưng và truyền hịch đi các trấn để
lấy viện binh rồi sai em là Nguyễn Quang Thùy đem binh mã vào giữ Nghệ
An. Đến tháng 11, vua Tây Sơn đem quân 4 trấn ở xứ Bắc và quân Thanh
Hóa, Nghệ An, cả thảy được non 3 vạn người, sang sông Linh Giang. Lại sai
tướng đem hơn 100 chiếc chiến thuyền vào giữ cửa Nhật Lệ. Bấy giờ có vợ
Trần Quang Diệu là Bùi Thị Xuân cũng đem 5.000 thủ hạ đi tòng chinh.
Quan
Chưởng Trung Quân Bình Tây Đại Tướng Quân Nguyễn Văn
Trương, cùng với Tống Phúc Lương,
Đặng Trần Thương giữ
ở Linh Giang,
thấy quân Tây Sơn thế mạnh phải lui về giữ Đồng Hới. Nguyễn Vương được
tin ấy, liền thân chinh đem đại binh ra tiếp ứng, sai Phạm Văn Nhân và Đặng
Trần Thường đem quân ra giữ mặt bộ, sai Nguyễn Văn Trương ra giữ mặt
bể.
Tháng giêng năm nhâm tuất (1802), vua Tây Sơn sai Nguyễn Quang
Thùy tiến quân lên đánh lũy Trấn Ninh; đánh mãi không đổ. Vua Tây Sơn
đã toan rút quân về, nhưng Bùi Thị Xuân không chịu, xin cho ra đốc quân
đánh trận. Đánh từ sáng sớm đến chiều tối, chưa bên nào được thua. Bỗng
có tin rằng thủy quân của Tây Sơn
ở
cửa Nhật Lệ (cửa
Đồng Hới)
đã bị
Nguyễn Văn Trương phá tan cả. Quân Tây Sơn khiếp sợ bỏ chạy, tướng là
Nguyễn Văn Kiên về hàng nhà Nguyễn.
Vua Tây Sơn đem tàn quân chạy về Bắc, để Nguyễn Văn Thận ở lại
giữ Nghệ An.
Nguyễn Vương phá được quân Tây Sơn ở thành Trấn Ninh rồi đem
quân về Phú Xuân, để trung quân Nguyễn Văn Trương giữ
Đồng Hới,
để
Tống Phúc Lương và Đặng Trần Thường giữ Linh Giang.
Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng ở Quy Nhơn được tin quân Tây
Sơn thua ở Trấn Ninh, liệu chống không nổi, bèn đến tháng 3 năm nhâm
tuất (1802) bỏ thành Quy Nhơn, đem binh tượng đi đường thượng đạo qua
Ai Lao ra Nghệ An, để hội với vua Tây Sơn mà lo sự chống giữ.
15. Nguyễn Vương Lên Ngôi Tôn.
Nguyễn Vương từ khi khởi
binh
ở Gia Định tuy đã xưng vương, nhưng vẫn theo các chúa đời trước
không đặt niên hiệu. Đến nay khôi phục được Phú Xuân, thanh thế lừng lẫy,
bắc phá đại quân của Tây Sơn, nam lấy lại thành Quy Nhơn; đất An Nam bấy
giờ từ sông Linh Giang vào đến Gia Định lại thuộc về nhà Nguyễn như trước.
Các quan thân thuộc đều xin Nguyễn Vương đặt niên hiệu và lên ngôi tôn.
Tháng 5 năm nhâm tuất (1802) ngài lập đàn tế cáo trời đất, rồi thiết
triều để các quan chầu mừng, và đặt niên hiệu là Gia Long nguyên niên.
16. Quân Nam Ra Lấy Bắc Hà.
Nguyễn Vương đã lên ngôi làm
vua rồi, sai Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh
đem các đồ phẩm vật và
những ấn sách của nhà Thanh phong cho Tây Sơn sang nộp cho Thanh Triều
và xin phong. Ngài lại định ngự giá đi đánh Bắc Hà, bèn sai Nguyễn Văn
168
Trương lĩnh thủy binh, Lê Văn Duyệt và Lê Chất lĩnh bộ binh, hai mặt thủy
bộ cùng tiến.
Tháng 6, thì quân bộ sang sông Linh Giang tiến lên đóng
ở Hà
Trung, quân thủy vào cửa Hội Thống rồi lên đánh phá các đồn lũy của Tây
Sơn. Quan Trấn Thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Thận bỏ thành chạy ra giữ đồn
Tiền Lý ở Diễn Châu.
Bấy giờ Trần Quang Diệu
đi
đường Ai Lao ra đến châu Quý Hợp,
xuống huyện Hương Sơn thấy quân nhà Nguyễn đã lấy được Nghệ An rồi,
bèn cùng với Bùi Thị Xuân về huyện Thanh Chương, bao nhiêu quân sĩ đều
bỏ cả, được mấy hôm hai vợ chồng cùng bị bắt. Còn Vũ Văn Dũng chạy ra
đến Nông Cống cũng bị dân bắt được đem nộp.
Quân
Nguyễn Triều kéo tràn ra lấy Thanh Hóa, đi đến đâu quân Tây
Sơn chưa đánh đã tan, chỉ trong một tháng đã ra đến Thăng Long.
Vua Tây Sơn thấy thế mình không chống giữ được nữa, bèn cùng với
các em là Nguyễn Quang Thùy, Nguyễn Quang Thiệu, và mấy người bề tôi là
bọn
đô
đốc Tú, và Nguyễn Văn Tứ sang sông Nhị Hà chạy về phía Bắc,
nhưng lên đến địa hạt Phượng Nhỡn, bị dân ở đấy bắt được. Nguyễn Quang
Thùy tự tử, đô đốc Tú và vợ cũng tự vẫn. Còn vua tôi nhà Tây Sơn mấy
người đều bị đóng cũi đem về nộp ở Thăng Long.
Nhà Tây Sơn khởi đầu từ năm mậu tuất (1778), Nguyễn Nhạc xưng
đế ở Quy Nhơn, đến năm Nhâm Tuất (1802), cả thảy được 24 năm. Nhưng
Nguyễn Nhạc chỉ làm vua từ đất Quảng Nam, Quảng Nghĩa trở vào mà thôi,
còn từ Phú Xuân trở ra, thì thuộc về nhà Lê. Đến năm mậu thân (1788), vua
Quang Trung xưng đế hiệu, rồi ra đánh giặc Thanh, lấy lại đất Bắc Hà, sửa
đổi việc chính trị. Từ đó nước Nam mới thuộc về nhà Nguyễn Tây Sơn.
Vậy kể từ năm mậu thân (1788) đến năm nhâm tuất (1802) thì nhà
Tây Sơn chỉ làm vua được có 14 năm mà thôi.
Trong
bấy nhiêu năm phải đánh nam dẹp bắc luôn, không mấy lúc
nghỉ việc chiến tranh, cho nên nhà Tây Sơn không sửa sang được việc gì. Vả
sau khi vua Quang Trung mất rồi, vua thì hèn, quan thì nhũng, chính trị bỏ
nát, lòng người oán giận, ai cũng mong mỏi
được thời thịnh trị
để yên
nghiệp mà làm ăn. Bởi vậy cho nên khi vua Thế Tổ Cao Hoàng nhà Nguyễn
cất quân ra Bắc, lòng người theo phục, chỉ một tháng trời mà bình được đất
Bắc Hà, đem giang sơn về
một mối, nam bắc một nhà, làm cho nước ta
thành một nước lớn ở phương nam vậy.
169
PHẦN V
Cận Kim Thời-Đại
Nhà Nguyễn
(1802-1945)
CHƯƠNG I
Thế Tổ
(1802-1819)
Niên hiệu: Gia Long
26. Thế Tổ xưng đế hiệu
27. Việc triều chính
28. Binh
chế
29. Việc tài chánh
30. Công
vụ
31. Pháp
luật
32. Việc học hành
33. Việc giao thiệp với nước Tàu
34. Việc giao thiệp với nước Chân Lạp và nước Tiêm La
35.
Việc giao thiệp với nước Hồng Mao
36.
Việc giao thiệp với nước Pháp Lang Tây
37.
Sự giết hại công thần
38. Xét công việc của vua Thái Tổ
1. Thế Tổ xưng đế hiệu.
Thế tổ khởi binh chống nhau với Tây Sơn
ở đất Gia Định từ năm mậu tuất (1778), kể vừa 24 năm, mới dứt được nhà
Tây Sơn, thu phục được giang sơn cũ của chúa Nguyễn khi xưa và họp cả
nam bắc lại làm một mối. Khi việc đánh dẹp xong rồi, ngài xưng đế hiệu,
đặt quốc hiệu là Việt Nam, đóng Kinh đô ở Phú Xuân, tức là thành Huế bây
giờ.
Khi vua Thế Tổ lấy được đất Bắc Hà rồi, ngài xuống chỉ tha cho dân
một vụ thuế, và thăng thưởng cho các tướng sĩ. Ngài lại phong tước cho con
170
cháu nhà Lê, nhà Trịnh, cấp cho ruộng đất và trừ phong dịch cho dòng dõi
hai họ ấy để giữ việc thờ phụng tổ tiên.
Đoạn rồi, ngài đổi Bắc Hà là Bắc Thành, đặt quan tổng trấn, triệu
Nguyễn Văn Thành ở Quy Nhơn ra sung chức ấy, để coi mọi việc. Lại đặt ra
tam tào là tào Hộ, tào Binh, tào Hình, sai Nguyễn Văn Khiêm, Đặng Trần
Thường, và Phạm Văn Đăng ra coi các tào ấy, để giúp Nguyễn Văn Thành.
Đến tháng bảy năm nhâm tuất (1802), Thế Tổ về Kinh, đem vua tôi
nhà Tây Sơn về làm lễ hiến phù ở đền Thái Miếu, rồi đem ra tận pháp trường
xử trị. Lại sai quật mả vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và vua Thái Tổ Nguyễn
Huệ lên, đem vứt thây đi, còn đầu thì đem bỏ giam ở trong ngục tối.
Những bọn văn thần nhà Tây Sơn như Ngô Thì Nhiệm, Phan Huy Ích
ra hàng, đem nọc ra đánh ở trước văn miếu, rồi tha cho về. Lúc bấy giờ có
Ngô Thì Nhiệm vì trước có hiềm với
Đặng Trần Thường, cho nên đến khi
đánh ở văn miếu, Đặng Trần Thường sai người đánh chết.
Vua
Thế
Tổ
định tội, thưởng công xong rồi, lo sửa sang mọi việc;
làm đền Cần Chính để lập thường triều, đền Thái Hòa để lập đại triều; lại sai
quân dân xây thành Kinh Đô và Hoàng Thành cùng các thành trì ở ngoài các
doanh trấn.
Tuy
rằng ngài đã đặt niên hiệu, lên ngôi từ năm nhâm tuất (1802),
nhưng mà đến năm giáp tí (1804), tức là Gia Long tam niên, vua nhà Thanh
mới sai sứ sang phong vương, và đến năm bính dần (1806), ngài mới làm lễ
xưng đế hiệu ở đền Thái Hòa. Định triều nghi, cứ ngày rằm và ngày mồng
một thiết đại triều; ngày mồng 5, mồng 10, 20 và 25 thì thiết tiểu triều.
Lúc
ngài
đánh xong Tây Sơn, thì chính trị trong nước đổ nát, phong
tục hủy hoại, việc gì cũng cần sửa sang lại. Bởi vậy ở trong thì ngài chỉnh
đốn pháp luật, và mọi việc cai trị cùng là sửa sang phong tục, cấm dân gian
không cho lấy việc thần phật mà bày ra rượu chè ăn uống, nghiêm dụ quan
lại không được sinh sự nhiễu dân. Ở ngoài thì ngài lo sự giao hiếu với nước
Tàu, nước Tiêm, nước Chân Lạp, khiến cho nước Việt Nam lúc bấy giờ trong
ngoài đều được yên trị.
2. Việc Triều Chính.
Ở trong cung, nhà vua không đặt ngôi hoàng
hậu, chỉ có ngôi hoàng phi và các cung tần. Sau khi vua mất, thì tự quân lên
ngôi, mới tôn mẹ lên làm Hoàng Thái Hậu.
Quan
lại trong Triều
đại khái theo chế
độ nhà Lê, nhưng bỏ chức
Tham Tụng và Bồi Tụng tức là chức tể tướng đời xưa. Mọi việc đều do Lục
Bộ chủ trương hết cả. Mỗi bộ có quan Thượng Thư làm đầu, quan tả hữu
tham tri, tả hữu thị lang, cùng các thuộc viên như là lang trung, viên ngoại
lang, chủ sự và bát cửu phẩm thơ lại, v.v.....
Bộ Lại: coi việc thuyên bổ quan văn, ban thưởng phẩm cấp, khảo
xét công trạng, phong tặng tước ấm, thảo những tờ chiếu sắc cáo mệnh và
làm những sổ các hàng quan lại v.v....
Bộ Hộ: coi việc đinh điền thuế má, tiền bạc chuyển thông, kho tàng
chứa chất, hóa vật đắt rẻ v.v...
Bộ Lễ: coi việc triều hộ, khánh hạ, tế tự, tôn phong, cùng là cách
thức học hành thi cử, tinh biểu cho người sống lâu, người có tiết nghĩa,
phong thụy cho các thần nhân v.v.....
Bộ Binh: coi việc thuyên bổ võ chức, giảng duyệt quân lính, sai
khiến quân đi thú hoặc đi đánh dẹp, kén chọn binh đinh, xét người có công
người có lỗi về việc binh.
Bộ Hình: coi việc hình danh pháp luật, tra nghĩ dâng tấu, duyệt lại
những tội nặng án ngờ, xét kỹ những tù giam ngục cấm.
Bộ Công: coi việc làm cung điện, dinh thự, xây thành, đào hào, tu
tạo tàu bè, đặt làm kiểu mẫu, thuê thợ thuyền, mua vật liệu v.v....
Ngoài
lục bộ
lại có Đô Sát Viện
để giữ việc can gián vua, và đàn
hạch các quan. Cấp sự
trung
các
khoa
và
giám
sát
ngự
sử các đạo,
đều
thống thuộc về viện ấy. Trong viện có tả hữu đô ngự sử và tả hữu phó đô
ngự sử đứng đầu.
Bấy giờ vua Thế Tổ lại đặt ra Tào Chính để coi việc vận tải cùng là
thuế má tàu bè. Có quan Tào Chính Sứ và Tào Phó Sứ làm đầu.
Các
địa phương thì lúc bấy giờ từ nam chí bắc chia ra làm 23 trấn và
4 doanh. Từ Thanh Hóa ngoại (tức là Ninh bình bây giờ) trở ra, gọi là Bắc
Thành, thống cả 11 trấn, chia ra làm 5 nội trấn: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam
Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, và Hải Dương; 6 ngoại trấn: Tuyên Quang, Hưng
Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên. Từ Bình Thuận trở vào
gọi là Gia Định Thành, thống cả 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên
Hòa, Vĩnh Thanh (tức là Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường và Hà Tiên.
171
Còn
ở quãng giữa nước, thì đặt Thanh Hóa Trấn (gồm cả Thanh Hóa
nội, Thanh Hóa ngoại), Nghệ An trấn, Quảng Nghĩa trấn, Bình Định trấn, Phú
Yên trấn, Bình Hòa trấn (tức là Khánh hòa) và Bình Thuận trấn. Đất kinh kỳ
thống bốn doanh là: Trực Lệ Quảng Đức doanh (tức là Thừa Thiên bây giờ),
Quảng Trị doanh, Quảng bình doanh, Quảng Nam doanh.
Ở
Bắc Thành và Gia Định Thành đều
đặt chức tổng trấn, và phó
tổng trấn, để coi mọi việc. Ở các trấn thì đặt quan lưu trấn hay là quan trấn
thủ, quan cai bạ và quan ký lục để coi việc cai trị trong trấn.
Trấn lại chia ra phủ, huyện, châu, đặt chức tri phủ, tri huyện, tri
châu để coi việc cai trị.
Những trấn ở Nghệ An, Thanh Hóa và 5 nội trấn ở Bắc Thành, thì
dùng những quan cựu thần nhà Lê làm quan cai trị. Còn 6 ngoại trấn ở Bắc
Thành, thì giao quyền cai trị cho những thổ hào sở tại.
3. Binh Chế.
Khi vua Thế Tổ đánh được Tây Sơn rồi, ngài ban thưởng
cho các tướng sĩ, tặng phong và làm đền thờ những người tử trận. Còn
những quân lính già nua thì cho về quê quán. Đặt ra phép giản binh: lệ định
các trấn, tự Quảng Bình vào đến Bình Thuận thì cứ ba tên đinh kén lấy một
tên lính; tự Biên Hòa trở vào thì cứ 5 tên đinh kén lấy một tên lính; tự Hà
Tịnh trở ra đến 5 nội trấn ở Bắc Thành thì cứ 7 tên đinh kén lấy một tên lính.
Còn 6 ngoại trấn là Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Quảng Yên thì cứ 10 tên đinh kén lấy một tên lính.
Ở chỗ Kinh thành thì đặt ra thân binh, cấm binh, tinh binh. Lính
thân binh mỗi vệ có 500 người và có 50 người tập quân nhạc. Ở các trấn thì
đặt ra lính cơ, lính mộ. Lại đặt biền binh ban lệ, nghĩa là các binh lính chia
ra làm 3 phiên, 2 phiên về quán, còn một phiên ở tại ban luân lưu thay đổi
cho nhau.
Những binh khí thì dùng gươm giáo, mã tấu, và lại có súng lớn bằng
đồng gọi là súng đại bác, súng nhỏ gọi là súng thạch cơ điểu thương, nghĩa
là bắn thì mổ bằng máy đá lửa. Ở chỗ kinh thành lập ra ba sở xạ trường để
quân lính tập bắn.
Ở các cửa bể
đều làm đồn
đặt súng để phòng giữ và để xem xét
những tàu bè ngoại quốc đi lại.
Nước Việt Nam ta có nhiều bể cần phải giữ gìn, bởi vậy vua Thế Tổ
lưu tâm về việc chỉnh đốn binh thuyền: lấy người ở gần bể về doanh Quảng
Đức và doanh Quảng Nam làm 6 vệ thủy quân đóng tại Kinh Thành. Còn ở
các hải khẩu, mỗi nơi có một cơ lính thủy coi giữ. Nhà vua lại làm một thứ
thuyền lớn ngoài bọc đồng, để đi lại tuần phòng ở miền bể.
4. Việc Tài Chính.
Thuế đinh, thuế điền đều định lại cả. Thuế điền
thì chia ra làm 3 hạng: nhất
đẳng
điền mỗi mẫu
đồng niên nộp thóc 20
thăng; nhị
đẳng
điền 15 thăng; tam đẳng
điền 10 thăng. Còn thứ ruộng
mùa đồng niên phải nộp 10 thăng.
Thuế đinh thì lệ định: từ Nghệ An ra đến nội ngoại Thanh Hóa, mỗi
suất đồng niên phải chịu:
Thuế thân
1 quan 2 tiền
Mân
tiền
1
tiền
Cước mễ
2
bát
5
nội trấn Bắc Thành và phủ Phụng Thiên
139
, mỗi suất
đinh
đồng
niên phải chịu:
Thuế thân
1 quan 2 tiền
Mân
tiền
1
tiền
Điệu tiền (tạp dịch) 6
tiền
Cước mễ
2
bát
6
ngoại trấn Bắc Thành, mỗi suất đinh đồng niên phải chịu:
Thuế thân
6 tiền
Mân
tiền
1
tiền
Điệu tiền
3
tiền
Cước mễ
1
bát
Lệ giảm thuế: Thuế lệ tuy định như vậy, nhưng năm nào ở đâu mất
mùa, như là bị hoàng trùng, đại hạn hay là nước lụt, v.v... thì nhà nước
chiếu theo sự thiệt hại nhiều ít mà giảm thuế cho dân. Lúa 10 phần thiệt hại
tới 4 phần thì khoan giảm cho hai phần thuết; thiệt hại 5 phần thì giảm cho
3; thiệt hại 6 phần thì giảm cho 4; thiệt hại 7 phần thì giảm cho 5; thiệt hại 8
phần thì giảm cho 6; thiệt hại 9 phần thì giảm cho 7; thiệt hại hết cả thì
giảm cả. Hoặc nhà nước có lấy dân đinh đi làm đường, đào sông, xây thành
v.v... thì cũng được giảm thuế.
139
Tức là phủ Hoài Đức bây giờ.
172
Vụ thuế: Nhà vua lại tùy từng
địa phương mà định vụ thuế. Từ
Quảng Bình đến Bình Thuận cứ mỗi năm một vụ thu thuế, khởi đầu từ tháng
4 đến tháng 7 thì hết. Từ Nghệ An ra đến Thanh Hóa ngoại, cùng các trấn ở
Bắc thành mỗI năm thu thuế 2 vụ: mùa hạ thì khởi tự tháng 4 đến tháng 6
thì hết; mùa đông thì khởi sự tự tháng 10 đến tháng 11 thì hết.
Đinh bạ: Lệ định 5 năm một lần làm sổ đinh, trong làng từ chức sắc
cho đến quân dân, đều phải vào sổ. Kể từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống,
đều phải khai vào sổ.
Điền bạ: Các làng, hoặc ruộng mùa, hoặc ruộng chiêm, hoặc ruộng
hai mùa, hoặc có đất hạng nào, bao nhiêu mẫu, sào, thước, tấc, tọa lạc tại
đâu, đông tây tứ chí phải chua cho rõ ràng. Mỗi làng phải làm 3 quyển sổ,
cứ 5 năm làm một lần đệ vào bộ đóng dấu kiềm, rồi một bản lưu lại bộ, để
phòng khi xét đến; còn hai bản giao về tỉnh, tỉnh để một bản lưu chiểu, còn
một bản gia trả dân xã lưu thủ.
Cấm bán ruộng công điền: Từ khi nhà Lê mất ngôi, dân xã có nơi
thì đem công điền đổi ra tư điền, có nơi thì đem cố bán đi, bởi vậy năm Gia
Long thứ hai (1803) nhà vua lập lệ cấm dân xã không được mua bán công
điền công thổ, chỉ trừ lúc nào xã thôn có công dụng điều gì, thì mới được
phép cho điển cố, hạn hết 3 năm lại phải trả lại. Ai giữ quán hạn ấy thì phải
tội.
Thuế các sản vật: Năm Gia Long thứ hai (1803), định lệ các quế hộ
ở Nghệ An, đồng niên phải nộp các hạng quế 120 cân. Ở Thanh Hóa phải
nộp 70 cân, và đều được miễn trừ thuế thân cả. Những người tìm được cây
quế, phải trình quan để cấp cho văn bằng mới được đẵn. Đẵn xong rồi một
nửa nộp quan, một nửa cho người tìm được.
Năm Gia long thứ tư (1805), định lệ những người đi lấy yến sào ở
các đảo về hạt Quảng Nam, mỗi người đồng niên phải nộp thuế yến 8 lạng,
và được tha việc binh lính.
Còn
những thuế
hương, thuế sâm, thuế chiếu, thuế
gỗ,
đều có lệ
riêng, định cho nộp bằng tiền hay là bằng
Hồ Thành Tín (Theo Trần Trọng Kim) |