Việt Nam Sử Lược - Tự Chủ Thời-Đại
30.03.2008 15:50
Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn-ở của loài người, là không có nhân-phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang-sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh-vực mặc lòng, một cái cơ-nghiệp dựng lên bởi sự gian-ác hèn-hạ như thế, thì không bao giờ bền-chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung-hưng lên được.
PHẦN IV Tự Chủ Thời-Đại Thời Kỳ Nam Bắc Phân Tranh ( 1528 - 1802 ) NHÀ HẬU LÊ
Thời-kỳ phân tranh
(1533-1788)
CHƯƠNG I
Lịch Triều Lược Kỷ
1.
Nam-triều Bắc triều
2.
Trịnh Nguyễn phân tranh
Nước Nam ta từ khi Ngô Vương Quyền đánh đuổi được quân Nam-
Hán, vua Đinh Tiên-hoàng dẹp yên được loạn Thập-nhị Sứ-quân lập thành
một nước tự-chủ, đời nọ qua đời kia kế truyền được non 600 năm. Đến đầu
thập-lục thế-kỷ, bởi vì vua nhà Lê hoang dâm vô độ, bỏ việc chính-trị đổ-nát,
cho nên trong nước loạn-lạc, nhà Mạc nhân dịp mà làm sự thoán-đoạt. Nhà
Lê tuy đã mất ngôi, nhưng lòng người còn tưởng nhớ đến công-đức của vua
Thái-tổ và vua Thánh-tông, cho nên lại theo phò con cháu nhà Lê trung-
hưng lên ở phía nam, lập ra một Triều-đình riêng ở vùng Thanh-hóa, nghệ-
an để chống nhau với nhà Mạc. Ấy là thành ra Nam-triều và Bắc-triều; hai
bên đánh nhau trong năm sáu mươi năm trời.
Đến khi nhà Lê nhờ có họ Trịnh giúp rập, dứt được nhà Mạc, tưởng
là giang-sơn lại thống-nhất như cũ, ai ngờ họ Trịnh và họ Nguyễn lại sinh ra
lòng ghen-ghét, gây nên mối thù-oán, rồi mỗi họ hùng-cứ một phương, chia
nước ra làm hai mảnh: họ Nguyễn giữ xứ Nam, họ Trịnh giữ xứ Bắc, mỗi họ
chiếm-giữ một Xứ để làm cơ-nghiệp riêng của mình. Từ đó giang-sơn chia
rẽ, Nam Bắc phân tranh, ấy là một thời-đại riêng trong lịch-sử nước ta vậy.
Nhà
Hậu-Lê từ khi trung-hưng lên, con-cháu vẫn giữ ngôi làm vua,
nhưng quyền chính-trị ở cả họ Trịnh. Còn ở phía nam thì từ sông Linh-giang
trở vào là cơ-nghiệp của họ Nguyễn. Tuy vậy, hai họ chỉ xưng chúa, chứ
không xưng vua, và bề ngoài vẫn tôn-phù nhà Lê. Sau này ta hãy chép tóm
cả các đời vua và các đời chúa để cho rõ sự kế truyền. Còn những công-việc
về thời bấy giờ thì ta sẽ bàn riêng rẽ từng mục cho rõ-ràng.
I. NAM TRIỀU BẮC TRIỀU
NAM TRIỀU
Lê Trang Tông
(1533-1548)
Niên hiệu: Nguyên-hòa
Trang-tông
húy
là
Duy-Ninh,
con rốt vua Chiêu-tông. Ông
Nguyễn Kim lập ngài lên làm
vua ở đất Cầm-chân (Lào), sau
đưa ngài về Thanh-Hóa, lập
hành-điện ở Vạn-lại.
Trang-tông làm vua được 16
năm, thọ 31 tuổi.
Lê Trung Tông
(1548-1556)
Niên hiệu: Thuận-bình
Trung-tông húy là Duy Huyên,
con vua Trang-tông. Ngài làm
vua được 8 năm, thọ 28 tuổi.
BẮC TRIỀU
Thái Tổ Mạc Đăng Dung
(1527-1529)
Niên hiệu: Minh-Đức
Thái Tông Mạc Đăng Doanh
(1530-1540)
Niên hiệu: Đại-chính
Nhà
Lê
trung-hưng lên ở
Thanh-hóa.
Hiến Tông Mạc Phúc Hải
(1541-1546)
Niên hiệu: Quãng-hòa
Lê Anh Tông
(1556 - 1573)
Niên hiệu: Thiên-hữu (1557)
Chính-trị (1558-1571)
Hồng-phúc (1572-1573)
Anh-tông húy là Duy-bang,
cháu huyền-tôn ông Lê Trừ,
anh vua Thái-tổ ngày trước.
Vua Trung-tông không có con,
cho nên ông Trịnh Kiểm mới đi
tìm ngài về lập nên làm vua.
Khi Trịnh Kiểm mất rồi, quyền
về Trịnh Tùng, ngài phải trốn
về Nghệ-an. Trịnh Tùng sai
người
đuổi theo bắt về giết
đi.
Ngài làm vua được 16 năm, thọ
42 tuổi.
Lê Thế Tông
(1573 - 1599)
Niên hiệu: Gia-thái (1573-1577)
Quang-hưng (1578-1599)
Thế-tông húy là Duy-Đàm,
con thứ 5 vua Anh-tông. Trịnh
Tùng lập ngài lên làm vua từ
lúc còn 7 tuổi.
Trong
đời ngài làm vua,
Trịnh Tùng dứt
được họ
Mạc,
lấy lại
đất
Đông-đô.
Ngài
làm
vua được 27 năm, thọ 33 tuổi.
Tuyên Tông Mạc Phúc Nguyên
(1546 - 1561)
Niên hiệu: Vĩnh-Định (1547)
Cảnh-lịch (1548-1553)
Quang-bảo (1554-1561)
Mạc phúc Nguyên cố đánh lấy
Thanh-hóa nhưng không được.
Mạc Mậu Hợp
(1562-1592)
Niên hiệu:
Thuần-phúc (1562-1565)
Sùng-khang (1566-1577)
Diên-thành (1578-1585)
Đoan-thái (1586-1587)
Hưng-trị (1588-1590)
Hồng-ninh (1591-1592)
Mạc Mậu Hợp làm vua được
30 năm. Sau bị Trịnh Tùng bắt
được
đem về chém ở Thăng-
long và đem
đầu vào bêu ở
Thanh-hóa.
Nhà
Mạc mất ngôi từ
đấy.
Nhưng con cháu được nhờ nhà
Minh bênh-vực, còn được giữ
đất Cao-bằng ba đời nữa.
II. TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH
Lê Kính-tông (1600-1619)
Niên hiệu: Thận-đức (1600) - Hoằng-định (1601-1619)
Kính-tông húy là duy-tân, con vua Thế-tông. Ngài làm
vua đến năm kỷ-mùi (1619) bị Trịnh Tùng bắt phải thắt cổ mà tự
tận. Trị-vì được 20 năm, thọ 32 tuổi.
TRỊNH
Bình An Vương Trịnh Tùng
(1570 - 1620)
Miếu hiệu: Thành tổ Triết
Vương
Trịnh Tùng tranh quyền của
anh, nối nghiệp Trịnh Kiểm
đánh phá nhà Mạc, lấy lại
đất
Đông-đô. Lập ra nghiệp chúa
Trịnh, nhưng vẫn tôn vua Lê.
NGUYỄN
Đoan Quận Công
Nguyễn Hoàng
(1600 - 1613)
Truy
tôn
là
Thái-tổ Gia-dụ
Hoàng-đế
,
đương thời gọi là
chúa Tiên
.
Ông
Nguyễn Hoàng là con
thứ hai ông Nguyễn Kim, vào
trấn
đất Thuận-hóa và Quảng-
nam lập ra nghiệp chúa
Nguyễn.
Lấy đất của Chiêm-thành lập
ra phủ Phú-yên. Mất năm quí-
sửu (1613), thọ 89 tuổi.
Thụy Quận Công
Nguyễn Phúc Nguyên
(1613 - 1635)
Truy tôn là
Hi-tông Hiến văn
Hoàng-đế,
đương thời gọi là
chúa Sãi. Ngài là con thứ 6 ông
Nguyễn Hoàng, cải họ là
Nguyễn-phúc.
Lê Thần Tông (1619-1643) (lần thứ nhất)
Niên-hiệu:
Vĩnh-tộ (1620-1628)
Đức-long (1629-1643)
Dương-hòa (1635-1643)
Thần-tông húy là Duy-Kỳ, con vua Kính-tông. Làm vua
đến năm quí-mùi (1643) thì nhường ngôi cho Thái-tử, mà làm
Thái-thượng-hoàng.
TRỊNH
Trịnh Tùng mất năm quí-hợi
(1635).
Thanh Đô Vương
Trịnh Tráng
(1623 - 1657)
Miếu-hiệu là:
Văn-tổ Nghị-vương
Trịnh Tráng đánh họ
Mạc
ở
Cao-bằng và khởi sự đánh nhau
với họ Nguyễn
ở
đất Quảng-
bình.
NGUYỄN
Ông
Nguyễn-phúc Nguyên
chống với họ Trịnh
ở Quảng-
bình. Mất năm
ất-hợi (1635),
thọ 73 tuổi.
Nhân Quận Công
Nguyễn Phúc Lan
(1635-1648)
Truy tôn là
Thần-tông Hiếu-
chiêu Hoàng-đế,
đương thời gọi
là
chúa Thượng
.
Ông
Nguyễn-phúc Lan là con
thứ hai chúa Sãi, đánh nhau với
họ Trịnh ở Quảng-bình.
Lê Chân Tông (1634-1649)
Niên-hiệu: Phúc-thái
Chân-tông húy là Duy-Hữu, con vua Thần-tông, làm vua
được 6 năm, thọ 20 tuổi.
Trong
đời ngài, vua nhà Minh là Quế-vương
đóng
ở
Quảng-tây sai sứ sang phong cho ngài là An-nam quốc-vương.
TRỊNH
Trịnh Tráng đánh họ Nguyễn
ở phía nam.
NGUYỄN
Ông
Nguyễn-phúc Lan mất
năm mậu-tí (1648), thọ 48 tuổi.
Dũng Quận Công
Nguyễn Phúc Tần
(1648-1687)
Truy
tôn
là Thái-tông Hiếu-
triết Hoàng-đế,
đương thời gọi
là
chúa Hiền.
Ông
Nguyễn-phúc Tần
đánh
nhau với họ Trịnh
ở
đất Nghệ-
an. Lấy đất Chiêm-thành lập ra
phủ Ninh-hòa và phủ Diên-
khánh (tức là đất Khánh-hòa
bây giờ).
Lê Thần Tông (1649-1662) (lần thứ hai)
Niên-hiệu: Khánh-đức (1649-1652) - Thịnh-đức (1653-1657) -
Vĩnh-thọ (1658-1661) - Vạn-khánh (1662)
Chân-tông mất không có con. Trịnh Tráng lại rước Thần-
tông Thái-thượng-hoàng về làm vua. Lần thứ hai này ngài làm
vua được 13 năm thì mất, thọ 56 tuổi.
TRỊNH
Trịnh Tráng mất năm
đinh-
dậu (1657)
Tây Vương Trịnh Tạc
(1657-1682)
Miếu-hiệu:
Hoằng-tổ Dương-vương
Trịnh Tạc đánh con cháu nhà
Mạc lấy lại
đất Cao-bằng. Đặt
ra lệ vào chầu vua không lạy,
sớ
tấu không viết tên, và đặt
giường ngồi
ở bên tả ngai vua
ngự.
NGUYỄN
Nguyễn-phúc Tần (Chúa
Hiền)
LÊ HUYỀN-TÔNG (1663-1671)
Niên-hiệu: Cảnh-trị
Huyền-tông húy là Duy-Vũ, con thứ hai vua Thần-tông.
Trong đời ngài làm vua mới khởi đầu thông sứ với nhà Thanh, và
cấm đạo Gia-tô. Ngài làm vua được 9 năm, thọ 18 tuổi.
TRỊNH
Trịnh Tạc
NGUYỄN
Nguyễn phúc Tần (Chúa
Hiền)
Lê Gia Tông (1672-1675)
Niên-hiệu:
Dương-đức (1672-1773) - Đức-nguyên (1674-1675)
Gia-tông húy là Duy-Hội, con thứ ba vua Thần-tông. Lúc
ngài lên hai tuổi thì Thần-tông mất, Trịnh Tạc đem về nuôi trong
phủ. Khi vua Huyền-tông mất, không có con, Trịnh Tạc lập ngài
lên làm vua, được 4 năm, thọ được 15 tuổi.
TRỊNH
Trịnh Tạc
NGUYỄN
Nguyễn-phúc Tần (Chúa
Hiền)
Lê Hi Tông ( 1676-1705)
Niên-hiệu: Vĩnh-trị (1678-1680) - Chính-hòa (1680-1705)
Hi-tông húy là Duy-Hợp, con thứ tư vua Thần-tông. Khi
Thần-tông mất, bà Trịnh-thị
mới có thai được bốn tháng, Trịnh
Tạc đem về nuôi ở bên phủ. Gia-tông mất không có con, Trịnh
Tạc lập lên làm vua được 29 năm rồi truyền ngôi cho Thái-tử mà
làm Thái-thượng-hoàng.
TRỊNH
Trịnh Tạc mất năm nhâm-
tuất (1682)
Định Vương Trịnh Căn
(1682-1709)
Miếu-hiệu là:
Chiêu-tổ Khang-vương
Trịnh Căn làm chúa được 28
năm thì mất, truyền ngôi chúa
cho cháu huyền-tôn là Trịnh
Cương.
NGUYỄN
Nguyễn-phúc Tần mất năm
đinh-mão (1687), thọ 68 tuổi.
Hoằng Quốc Công
Nguyễn Phúc Trăn
(1687 - 1691)
Truy
tôn
là Anh-tông Hiếu-
nghĩa Hoàng-đế,
đương thời gọi
là chúa
Nghĩa
.
Lập phủ
ở Phú-xuân là chỗ
kinh-đô bấy giờ. Mất năm tân-
mùi (1691), thọ 43 tuổi.
Tộ Quốc Công
Nguyễn Phúc Chu
(1691 - 1725)
Truy
tôn
là Hiến-tông Hiếu-
minh Hoàng-đế,
đương thời gọi
là
Quốc-chúa
.
Ông
Nguyễn-phúc Chu lấy
hết nước Chiêm-thành (nay là
đất Bình-thuận) và lại lấy
đất
Gia-định, Hà-tiên của Chân-lạp.
Lê Dụ Tông (1706-1729)
Niên-hiệu: Vĩnh-thịnh (1706-1719) - Bảo-thái (1720-1729)
Dụ-tông húy là Duy-Đường, làm vua được 24 năm, bị
Trịnh Cương bắt phải truyền ngôi cho Thái-tử là Duy-Phương.
Mất năm tân-hợi (1731), thọ 52 tuổi.
TRỊNH
Trịnh Căn mất năm kỷ-sửu
(1709).
An Đô Vương
Trịnh Cương
(1709 - 1729)
Miếu-hiệu là:
Hi-tổ Nhân-vương.
Mất năm kỷ-dậu (1729).
NGUYỄN
Nguyễn-phúc Chu mất năm
ất-tị (1725), thọ 51 tuổi, có 146
người con.
Đỉnh Quốc Công
Nguyễn Phúc Trú
(1725-1738)
Truy
tôn
là Túc-tông Hiếu-
ninh Hoàng-đế
mở-mang
đất
Gia-định, và bảo-hộ nước Chân-
lạp.
Lê Đế Duy Phương (1729-1732)
Niên-hiệu: Vĩnh-khánh
Duy-phương làm vua được 3 năm, bị Trịnh Giang vu cho tư
thông với vợ Trịnh Cương, phải bỏ, giáng xuống làm Hôn-đức-
công, rồi đến năm nhâm-tí (1732) thì bị giết.
TRỊNH
Trịnh Cương mất.
Uy Nam Vương
Trịnh Giang
(1729 - 1740)
Miếu-hiệu là:
Dụ-tổ Thuận-vương
Trịnh Giang làm chúa xa-xỉ và
hung-ác quá độ, giặc-giã nổi
lên rất nhiều.
NGUYỄN
Nguyễn-phúc Trú.
Lê Thuần Tông (1732-1735)
Niên-hiệu: Long-đức
Thuần-tông húy là Duy-Tường. Ngài là con vua Dụ-tông,
trước đã được lập làm Thái-tử, sau bị Trịnh Cương bỏ để lập Duy-
Phương. Trịnh Giang lại bỏ Duy-Phương lập ngài lên làm vua, mất
năm ất-mão (1735), thọ 37 tuổi.
TRỊNH
Trịnh Giang
NGUYỄN
Nguyễn-phúc Trú
Lê Ý Tông (1735-1740)
Niên-hiệu: Vĩnh-hữu
Ý-tông húy là Duy-Thìn, con vua Dụ-tông, Trịnh Giang bỏ
con vua Thuần-tông mà lập ngài.
Năm canh-thân (1740) Trịnh Doanh bắt ngài phải nhường
ngôi cho con vua Thuần-tông, rồi làm Thái-thượng-hoàng, mất
năm kỷ-mão (1759), thọ 41 tuổi.
TRỊNH
Trịnh Giang bị bỏ năm canh-
thân (1740), làm Thái-thượng-
vương. Em là Trịnh Doanh lên
thay.
Minh Đô Vương
Trịnh Doanh
(1740 - 1767)
Miếu-hiệu là:
Nghị-tổ Ân-vương
Trịnh Doanh đánh-dẹp giặc-
giã trong nước.
NGUYỄN
Nguyễn-phúc Trú mất năm
mậu-ngọ (1738), thọ 43 tuổi.
Vũ-Vương
Nguyễn Phúc Khoát
(1738 - 1765)
Truy tôn là
Thế-tông Hiếu-võ
Hoàng-đế.
Ông
Nguyễn-phúc Khoát
đánh Chân-lạp mở thêm đất
ở
Gia-định.
Lê Hiển Tông (1740-1786)
Niên-hiệu: Cảnh-hưng
Hiển-tông húy là Duy-Diêu, con vua Thuần-tông. Làm
vua được 46 năm, thọ 70 tuổi.
TRỊNH
Trịnh Doanh mất năm
đinh-
hợi (1767).
Tỉnh Đô Vương
Trịnh Sâm
(1767 - 1782)
Miếu-hiệu là:
Thánh-tổ Thịnh-vương
Trịnh Sâm dẹp yên giặc ở
xứ Bắc. Lấy đất Thuận-hóa và
Quảng-nam của chúa Nguyễn.
Nhưng vì say-đắm nàng Đặng
thị Huệ, mới bỏ con trưởng lập
con thứ, làm thành ra cái mối
biến-loạn. Mất năm nhâm-dần
(1782).
Tôn Đô Vương
Trịnh Cán
Làm
chúa
được 2 tháng bị
quân Tam-phủ bỏ đi, lập anh là
Trịnh Khải lên làm chúa.
Đoan Nam Vương
Trịnh Khải
(1783 - 1786)
Bị Tây-sơn bắt được, phải tự
tử năm bính-ngọ (1786).
NGUYỄN
Võ-vương Nguyễn-phúc
Khoát xưng vương-hiệu năm ất-
dậu (1765).
Định Vương
Nguyễn Phúc Thuần
(1765 - 1777)
Truy
tôn
là Diệu-tông Hiếu-
định Hoàng-đế.
Đời ngài làm chúa bị Trương
phúc Loan chuyên quyền.
Quân Tây-sơn nổi lên đánh phía
nam, quân họ Trịnh
đánh phía
bắc.
Sau quân chúa Trịnh vào lấy
mất Phú-Xuân, Định-vương
chạy vào Gia-định bị
tướng
Tây-sơn là Nguyễn văn Huệ giết
mất. Ngài thọ 24 tuổi.
Nguyễn Vương
Nguyễn Phúc Ánh
Tức là vua Thế-tổ Cao-hoàng-
đế nhà Nguyễn khởi binh ở Gia-
định.
Lê Mẫn Đế (1787-1788)
Niên-hiệu: Chiêu-thống
Mẫn-đế là cháu đích-tôn vua Hiển-tông. Ngài bị quân Tây-sơn
đánh thua chạy sang Tàu cầu-cứu, sau đánh thua lại trở sang
Tàu, bị quan Tàu làm nhục, rồi mất ở Yên-kinh.
TRỊNH
Ân Đô Vương
Trịnh Bồng
Khi quân Tây-sơn về Nam rồi,
đảng họ Trịnh lại lập Trịnh
Bồng lên làm chúa. Vua gọi
Nguyễn hữu Chỉnh ra đánh họ
Trịnh, Trịnh Bồng bỏ đi tu.
NGUYỄN
Nguyễn-vương Nguyễn-phúc
Ánh khôi-phục đất Gia-định.
CHƯƠNG II
NAM-TRIỀU BẮC-TRIỀU
(1527-1592)
1. Chính-trị nhà Mạc
2. Việc nhà Mạc giao-thiệp với nhà Minh
3. Họ Nguyễn khởi nghĩa giúp nhà Lê
4. Quyền về họ Trịnh
5. Trịnh Tùng thống-lĩnh binh-quyền
6. Khôi-phục thành Thăng-long
7. Nhà Mạc mất ngôi
8. Việc nhà Hậu-Lê giao-thiệp với nhà Minh
9. Con-cháu nhà Mạc ở Cao-bằng
1. Chính-Trị Nhà Mạc.
Năm đinh-hợi (1527) Mạc đăng Dung cướp
ngôi nhà Lê lên làm vua, đặt niên-hiệu là Minh-đức.
Nhà Mạc tuy đã làm vua, nhưng còn sợ lòng người nhớ nhà Lê, cho
nên công-việc gì cũng theo phép nhà Lê cả, rồi lại tặng phong cho những
người vì nhà Lê mà tuẩn-tiết, và lục dụng những con-cháu các quan cựu
thần, phong cho quan-tước để dụ về với mình. Nhưng mà kẻ thì trốn-tránh
vào
ở chỗ
sơn-lâm, kẻ thì đi ra ngoại-quốc, kẻ thì đổi họ tên, không mấy
người chịu phục. Lại có kẻ
tức-giận vì họ
Mạc làm điều gian-ác, tụ
họp
những người nghĩa-khí nổi lên đánh phá, như Lê công Uyên, Nguyễn Ngã,
Nguyễn thọ Trường, khởi-nghĩa
ở
đất Thanh-hóa, nhưng vì thế-lực không
đủ, cho nên phải thua. Sau lại có Lê Ý nổi lên đánh họ Mạc ở đất Mã-giang,
mấy phen đã
được thắng trận, nhưng cũng vì khinh địch cho nên đến nỗi
phải bị bắt.
Mạc
đăng Dung bắt chước lối nhà Trần, làm vua được ba năm thì
nhường ngôi cho con là Mạc đăng Doanh rồi về ở Cổ-trai, làm Thái-thượng-
hoàng.
Năm canh-dần (1530) Mạc đăng Doanh lên làm vua, đặt niên-hiệu là
Đại-chính. Đăng Doanh tuy làm vua nhưng công việc trong nước thường do
Đăng Dung quyết đoán cả.
Mạc đăng Doanh làm vua được 10 năm, đến năm canh-tí (1540) thì
mất, truyền ngôi lại cho con là Mạc phúc Hải.
Mạc phúc Hải lên nối ngôi, đổi niên-hiệu là Quảng-hòa.
2. Việc Nhà Mạc Giao-Thiệp Với Nhà Minh.
Từ khi nhà Mạc
cướp ngôi nhà Lê rồi, quan nhà Lê đã có người sang kêu cầu bên Tàu để xin
viện binh. Vua nhà Minh đã sai quan đi đến Vân-nam cùng với quan Tuần-
phủ sở-tại tra-xét bên An-nam thực hư thế nào.
Quan nhà Lê sang Vân-nam kể rỏ việc họ Mạc làm điều thí nghịch.
Quan nhà Minh tâu với vua xin cử binh-mã sang đánh.
Việc định sang đánh họ Mạc không phải là vua nhà Minh có vị gì họ
Lê, nhưng chẳng qua cũng muốn nhân lúc nước Nam có biến, lấy cớ mà
sang làm sự chiếm giữ như khi trước sang đánh họ
Hồ
vậy.
Ta
phải biết
rằng phàm những việc nước nọ giao-thiệp với nước kia thì thường là người
ta mượn tiếng "
vị nghĩa
" mà làm những việc "
vị lợi
" mà thôi.
Năm đinh-dậu (1537) vua nhà Minh bèn sai Cừu Loan làm Đô-đốc,
Mao bá Ôn làn Tán-lý-quân-vụ, đem quân sang đóng gần cửa Nam-quan rồi
truyền hịch đi mọi nơi, hễ ai bắt được cha con Mạc đăng Dung thì thưởng
cho quan-tước và hai vạn bạc. Lại sai người đưa thư sang cho Mạc đăng
Dung bảo phải đưa sổ ruộng-đất nhân-dân sang nộp và chịu tội, thì được tha
cho khỏi chết.
Mạc đăng Dung sai bọn Nguyễn văn Thái sang sứ nhà Minh để xin
hàng.
Đến tháng 11 năm canh-tí (1540), Mạc đăng Dung thấy quân nhà
Minh sửa-soạn sang đánh, sợ-hãi quá chừng, bèn để Mạc phúc Hải ở lại giữ
nước, rồi cùng với bọn Vũ như Quế cả thảy hơn 40 người, tự trói mình ra
hàng, sang chịu tội ở cửa Nam-quan, lạy phục xuống đất để nộp sổ điền-thổ
và sổ dân-đinh, lại xin dâng đất 5 động: là động Tê-phu, động Kim-lạc, động
Cổ-xung, động Liễu-cát, động La-phù, và đất Khâm-châu. Lại đem vàng bạc
dâng riêng cho nhà Minh.
Quan nhà Minh tuy làm bộ
hống-hách nói đem binh sang đánh,
nhưng cũng sợ phải cái vạ như mấy năm bình-định ngày trước, và lại được
tiền bạc của Đăng Dung rồi, cái lòng nhiệt thành vị quốc cũng nguội đi, cho
nên mới tâu với vua nhà Minh xin phong cho Mạc đăng Dung làm chức Đô-
thống-sứ hàm quan nhị-phẩm nhà Minh.
Mạc đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi,
ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ-cõi,
lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông
vua mà không giữ được cái danh-giá cho trọn-vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra
trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để
cầu lấy cái phú-quí cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người
không biết liêm-sỉ.
Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách
ăn-ở của loài người, là không có nhân-phẩm; một người như thế ai mà kính
phục? Cho nên dẫu có lấy được giang-sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế
nhà Minh bênh-vực mặc lòng, một cái cơ-nghiệp dựng lên bởi sự gian-ác
hèn-hạ như thế, thì không bao giờ bền-chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên
con cháu họ Lê lại trung-hưng lên được.
3. Họ Nguyễn Khởi-Nghĩa Giúp Nhà Lê.
Khi Mạc đăng Dung
làm sự thoán-đoạt thì các quan cựu thần trốn-tránh đi cũng nhiều. Thủa ấy
có người con ông Nguyễn hoằng Dụ, tên là Nguyễn Kim (hay là Nguyễn
hoằng Kim)
97
làm quan Hữu-vệ
Điện-tiền Tướng-quân An-thanh-hầu, trốn
sang Ai-lao. Vua nước ấy là Xạ-đẩu cho đến xứ Sầm-châu (thuộc Trấn-man
phủ, đất Thanh-hóa). Ông Nguyễn Kim đến ở Sầm-châu rồi cho người đi tìm
con-cháu nhà Lê để đồ sự khôi-phục. Đến năm quí-tị (1532) tìm được một
người con rốt vua Chiêu-tông tên là Duy-Ninh lập lên làm vua, tức là Trang-
tông.
Khi ấy lại có một người tướng giỏi tên là Trịnh Kiểm, ở làng Sóc-sơn,
huyện Vĩnh-lộc, phủ Quảng-hóa. Ông Nguyễn Kim thấy người có tài, gả con
gái là Ngọc Bảo cho, để cùng ra sức giúp nhà Lê, dứt nhà Mạc.
Vua tôi nhà Lê nương-náu ở Sầm-châu để chiêu-tập quân-sĩ, mãi
đến năm canh-tí (1540), ông Nguyễn Kim mới đem quân về đánh Nghệ-an.
Năm nhâm-dần (1542) Trang-tông mới cất quân về
đánh Thanh-hóa và
Nghệ-an, qua năm sau (1543) thì thu phục được đất Tây-đô, quan Tổng-trấn
nhà Mạc là Dương chấp Nhất ra hàng.
97
Xem sách Việt Nam Khai Quốc Chí truyện, thì ông Nguyễn Kim tức là ông Nguyễn Hoằng Kim,
là con ông Nguyễn Hoằng Dụ, cháu ông Nguyễn Văn Lang, đều làm quan nhà Lê cả.
4. Quyền Về
Họ Trịnh.
Năm
ất-tị (1545) ông Nguyễn Kim đem
quân tiến đánh Sơn-nam, đi đến huyện Yên-mô, bị Dương chấp Nhất là hàng
tướng nhà Mạc đánh thuốc độc chết. Những binh-quyền giao cả lại cho con
rể là Trịnh Kiểm.
Trịnh Kiểm rút quân về Thanh-hóa, lập hành-điện
ở
đồn Vạn-lại
(thuộc huyện Thụy-nguyên, Thanh-hóa) để cho vua ở, rồi chiêu-mộ những
kẻ hào-kiệt, luyện-tập quân-sĩ, tích trữ lương-thảo để lo việc đánh họ Mạc.
Bấy giờ có những người danh-sĩ như là các ông Phùng khắc Khoan
(tức là trạng Bùng), ông Lương hữu Khánh đều vào giúp nhà Lê. Giang-sơn
bấy giờ chia làm hai: từ Thanh-hóa trở vào thuộc nhà Lê, làm Nam-Triều; từ
Sơn-nam trở ra thuộc về họ Mạc, làm Bắc-Triều.
Năm bính-ngọ (1546) Mạc phúc Hải mất, truyền ngôi lại cho con là
Mạc phúc Nguyên, niên-hiệu Vĩnh-định.
Năm mậu-thân (1548) vua Trang-tông mất, Trịnh Kiểm lập Thái-tử
tên là Duy Huyên lên làm vua, được 8 năm thì mất, tức là Trung-tông.
Vua Trung-tông mất không có con, mà bấy giờ dòng-dõi họ Lê cũng
không có ai, việc binh-quyền thì ở trong tay Trịnh Kiểm cả.
Tục truyền rằng Trịnh Kiểm
đã lưỡng-lự muốn tự
xưng làm vua,
nhưng còn chưa dám định hẳn bề nào, các quan cũng không ai biết làm thế
nào cho phải. Sau Trịnh Kiểm cho người lẻn ra Hải-dương hỏi ông Nguyễn
bỉnh Khiêm
98
, tức là Trạng Trình, xem nên làm thế nào.
Ông Nguyễn bỉnh Khiêm không nói gì cả, chỉ ngảnh lại bảo đầy-tớ
rằng: "
Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống
cũ mà gieo mạ
". Nói rồi lại sai đầy-tớ ra bảo tiểu quét-dọn chùa và đốt
hương,
để ông ra chơi chùa, rồi bảo tiểu rằng: "
Giữ chùa thờ Phật thì ăn
oản
".
Sứ-giả về kể chuyện lại cho Trịnh Kiểm nghe. Trịnh Kiểm hiểu ý,
mới cho người đi tìm con cháu họ Lê. Sau tìm được người cháu huyền-tôn
ông Lê Trừ, là anh vua Thái-tổ, tên là Duy Bang, ở làng Bố-vệ, huyện Đông-
sơn, rước về lập lên làm vua.
98
Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan nhà Mạc, được phong là Trình Quốc Công cho nên mới gọi
là Trạng Trình, sau về trí sĩ ở làng Trung An, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương.
Bấy giờ nhà Lê thì lo đánh họ Mạc để khôi phục lại đất Đông-đô, nhà
Mạc thì muốn trừ họ Lê để nhất-thống thiên-hạ. Nhưng từ khi ông Nguyễn
Kim mất rồi, và trong mấy năm về đời vua Trung-tông, Trịnh Kiểm cứ giữ
thế thủ ở đất Thanh-hóa, để sửa-sang việc binh-lương, đợi ngày ra đánh họ
Mạc.
Nhà Mạc sai Mạc kính Điển, là chú Mạc phúc Nguyên cầm quân đi
đánh họ Lê.
Mạc kính Điển đem binh vào đánh Thanh-hóa cả thảy kể hơn mười
phen, phen nào cũng phải thua trở về, Trịnh Kiểm cũng ra đánh Sơn-nam kể
vừa 6 lần, nhưng không có lần nào được toàn thắng. Chỉ có năm kỷ-mùi
(1559) Trịnh Kiểm đem 6 vạn quân ra đánh mặt Bắc, đã lấy được những tỉnh
Sơn-tây, Hưng-hóa, Thái-nguyên, Kinh-bắc, Lạng-sơn, và các huyện
ở
mặt
Hải-dương, tưởng đã sắp thành-công, nhưng lại bị Mạc kính Điển đem một
đạo quân đi
đường bộ vào đánh Thanh-hóa nguy-cấp lắm, Trịnh Kiểm lại
phải bỏ miền Bắc về giữ
đất Tây-đô. Thành ra hai bên cứ giữ nhau mãi:
nhà Lê tuy đã trung-hưng, nhưng giang-sơn vẫn chưa thu được lại như cũ,
mà nhà Mạc có làm vua, thì cũng chỉ làm vua ở miền Bắc mà thôi.
Năm tân-dậu (1561) vua nhà Mạc là Phúc Nguyên mất, con là Mạc
mậu Hợp lên nối ngôi làm vua.
Việc tranh chiến vẫn cứ như trước: khi thì Trịnh Kiểm ra đánh Sơn-
nam, khi thì Mạc kính Điển vào đánh Thanh-hóa, hai bên không bên nào
được hẳn.
5. Trịnh Tùng Thống-Lĩnh Binh-Quyền.
Năm canh-ngọ
(1570) Trịnh Kiểm mất, trao quyền lại cho con trưởng là Trịnh Cối để lo việc
đánh dẹp. Nhưng Trịnh Cối hay say đắm tửu sắc, tướng-sĩ không mấy người
phục; lại có em là Trịnh Tùng ý muốn cướp quyền của anh, bèn cùng với bọn
Lê cập Đệ, Trịnh Bách rước vua về đồn Vạn-lại, rồi chia quân ra chống với
Trịnh Cối.
Đương khi hai anh em họ Trịnh đánh nhau, thì Mạc kính Điển lại
đem hơn 10 vạn quân vào đánh Thanh-hóa, Trịnh Cối liệu thế địch không
nổi, bèn đem quân về hàng họ Mạc, được giữ quan-tước như cũ. Quân nhà
Mạc thừa thế tiến lên đến sông Mã-giang, tràn sang đóng ở đất Hà-trung, rồi
đến vây đánh An-trường (thuộc huyện Thụy-nguyên) là chỗ vua nhà Lê
đóng.
Bấy giờ vua Anh-tông về ở Đông-sơn, phong cho Trịnh Tùng làm tả-
thừa-tướng, tiết chế chư quân, để chống giữ với quân nhà Mạc. Trịnh Tùng
sai các tướng giữ mọi nơi rất là chắc-chắn. Mạc kính Điển đánh mãi không
được, lâu ngày hết lương phải rút quân về Bắc.
Quân nhà Mạc rút về rồi, vua phong cho Trịnh Tùng làm Thái-úy
Trưởng-quốc-công, và thăng thưởng cho các tướng-sĩ. Lại sai ông Phùng
khắc Khoan đi chiêu-tập những hoang dân ở Thanh-hóa về yên-nghiệp làm
ăn, và chỉnh-đốn việc chính-trị lại.
Bấy giờ việc gì cũng do Trịnh Tùng quyết-đoán cả, uy-quyền hống-
hách, vua cũng lấy làm lo. Lê cập Đệ thấy vậy, mưu với vua để trừ họ Trịnh,
nhưng Trịnh Tùng biết ý dùng mưu giết Cập Đệ, vua Anh-tông biết sự không
thành, lo sợ lắm, bèn cùng với bốn hoàng-tử chạy vào Nghệ-an.
Trịnh Tùng thấy vua xuất ngoại rồi, bèn cho người đi rước hoàng-tử
thứ năm là Duy Đàm, ở làng Quảng-thi, huyện thụy-nguyên về làm vua, rồi
sai Nguyễn hữu Liêu đem binh đi đuổi theo vua Anh-tông.
Anh-tông vào đến đất Nghệ-an, thấy quân đuổi đến, vội-vàng ẩn vào
trong vườn mía, nhưng bị Hữu Liêu tìm thấy đưa về, đến huyện Lôi-dương
thì Trịnh Tùng sai người đến giết đi, rồi nói rằng vua thắt cổ chết.
Trịnh Tùng giết vua Anh-tông rồi, thăng thưởng cho những người
đồng đảng với mình, và chia quân ra phòng giữ các nơi để chống với quân
nhà Mạc.
Từ năm quí-dậu (1573) cho đến năm quí-mùi (1583) vừa 10 năm,
Trịnh Tùng cứ giữ vững đất Thanh-hóa, Nghệ-an, để cho quân nhà Mạc vào
đánh phải hao binh tổn tướng. Trong bấy nhiêu năm, tướng nhà Mạc là Mạc
kính
Điển, Nguyễn Quyện, và Mạc ngọc Liễn, khi thì vào đánh Thanh-hóa,
khi thì vào đánh cả mặt Thanh và mặt Nghệ, nhưng mà không bao giờ thành
công, phen nào cũng được một vài trận rồi lại thua, phải rút quân về.
Từ
năm
ất-mão (1579) trở
đi, Mạc kính Điển mất rồi, Mạc
đôn
Nhượng đem binh vào đánh họ Lê, nhưng cũng không được trận nào.
6. Khôi-Phục Thành Thăng-Long.
Đến năm quí mùi (1583)
Trịnh Tùng xem thế mình đã mạnh, mới cử binh mã ra đánh Sơn-nam lấy
được thóc gạo đem về. Từ đó về sau năm nào cũng ra đánh, bắt quân nhà
Mạc phải đổi thế công ra thủ. Và nhà Mạc thấy thế nhà Lê một ngày một
mạnh, bèn bắt quân-dân đắp ba từng lũy, đào ba lần hào ở ngoài thành Đại-
la để làm kế thủ-bị.
Quân nhà Lê ra đánh trận nào được trận ấy, Trịnh Tùng bèn quyết ý
cử đại binh ra đánh Thăng-long.
Năm tân-mão ( 1591 ) Trịnh Tùng sai Diễn-quận-công Trịnh văn Hải,
Thái-quận-công Nguyễn thất Lý đem binh trấn-thủ các cửa bể và các nơi
hiểm-yếu. Sau Thọ-quận-công Lê Hòa ở
lại giữ ngự-dinh và cả
địa hạt
Thanh-hóa. Phòng bị đâu đó rồi, bèn đem hơn 5 vạn quân chia ra làm 5 đội,
sai quan Thái-phó Nguyễn hữu Liêu, quan Thái-úy Hoàng đình Ái, Lân-quận-
công Hà thế Lộc, Thế-quận-công Ngô cảnh Hữu, mỗi người lĩnh một đội, còn
Trịnh Tùng tự lĩnh 2 vạn quân ra cửa Thiên-quan (Ninh-Bình) qua núi Yên
mã (ở huyện An-sơn ) đất Tân-phong (tức là Tiên-phong ) rồi kéo về đóng ở
Tốt-lâm ( ? ) .
Vua nhà Mạc là Mạc mậu Hợp cũng điều-động tất cả quân bốn vệ và
quân năm phủ được hơn 10 vạn, sai Mạc ngọc Liễn và Nguyễn Quyện lĩnh
hai
đạo tả
hữu, Mậu Hợp tự
dẫn trung-quân đến
đóng
đối trận với quân
Trịnh Tùng.
Trịnh Tùng thấy quân Mạc đã đến, bèn tự mình dốc tướng-sĩ thề
đánh cho được để báo thù. Quân họ Trịnh đánh rất hăng, quân nhà Mạc
đánh không nổi, thua to, chết đến hàng vạn người. Mạc mậu Hợp bỏ chạy.
Quân họ Trịnh thừa thế đuổi tràn gần đến thành Thăng-long. Nhưng vừa
đến tết Nguyên-đán, cho nên Trịnh Tùng đình-chiến lại cho quân-sĩ nghỉ-
ngơi ăn tết. Qua sang tháng giêng năm nhâm-thìn ( 1592 ) Trịnh Tùng lập
đàn tế trời đất và các vua nhà Lê rồi đặt ba điều ước để cấm quân-sĩ.
1.
Không
được vào nhà dân mà lấy đồ ăn và củi-đuốc.
2.
Không
được cướp lấy của-cải và chặt lấy cây-cối.
3.
Không
được dâm hiếp đàn-bà con-gái, và không được
vì tư thù mà giết người.
Ai
phạm ba điều
ấy thì cứ theo quân-pháp mà trị. Đoạn rồi, tiến
quân lên đánh Thăng-long thành.
Mạc mậu Hợp thấy quân nhà Lê lại tiến lên, bèn sai Mạc ngọc Liễn,
Bùi văn Khuê, Nguyễn Quyện và Trần bách Niên ở lại giữ thành Thăng-long,
rồi đem quân sang sông Nhị-hà về đóng ở làng Thổ Khối.
Trịnh Tùng sai tướng chia quân vây đánh các cửa thành. Quân nhà
Mạc giữ không nổi, ba tầng lũy đều phải phá cả bọn Mạc ngọc Liễn, Bùi văn
Khuê phải bỏ thành mà chạy, Nguyễn Quyện thì bị bắt.
Trịnh Tùng lấy được thành Thăng-long rồi bắt quân phá những hào
lũy đi, sau phẳng ra làm bình địa, rồi về Thanh-hóa đem tin thắng trận cho
vua biết.
Sử không nói rõ tại làm sao Trịnh Tùng đã lấy được Thăng-long mà
không đánh rấn đi, lại bỏ về Thanh-hóa. Có lẽ là tại quân họ Trịnh tuy thắng
trận, nhưng tướng sĩ đều mỏi-mệt cả, vả lại thế họ Mạc hãy còn mạnh, ở lại
giữ không nổi, cho nên phải bỏ mà về.
Trịnh Tùng đã bỏ Thăng-long về Thanh-hóa, nhưng Mậu Hợp không
biết nhân lấy dịp ấy mà sửa sang việc võ-bị, chỉnh-đốn việc chính-trị, lại cứ
say
đắm tửu sắc, bạc
đãi các tướng-sĩ,
đến nỗi công-việc hỏng nát, thân
mình bị hại.
Bấy giờ Bùi văn Khuê có người vợ tên là Nguyễn-thị nhan sắc hơn
người, Mạc mậu Hợp muốn giết Văn Khuê đi để lấy Nguyễn-thị làm vợ.
Văn Khuê biết ý đem vợ vào ở huyện Gia-viễn ( thuộc Ninh-bình )
Mậu Hợp cho quân vào bắt. Văn Khuê phải xin về hàng với Trịnh Tùng.
7. Nhà Mạc Mất Ngôi.
Trịnh Tùng được Văn Khuê về hàng, mừng
lắm, liền sai Hoàng đình Ái ra đón Văn Khuê rồi đem đi làm tiền đội, tự mình
lại đem đại binh trở ra Tràng-an, gặp quân nhà Mạc ở sông Thiên-phái ( ở về
cuối huyện Ý-yên và huyện Phong-doanh, tỉnh Nam-định ), đánh nhau một
trận, lấy được 70 chiếc thuyền, tướng nhà Mạc là Trần bách Niên về hàng.
Quân
Trịnh Tùng kéo ra Bình-lục, sang Thanh-oai đóng ở bãi Tinh-
thần ( bây giờ là xã Thanh-thần ở huyện Thanh-oai ) rồi tiến lên đến sông
Hát-giang, cửa sông Đáy ra sông Hồng-hà, gặp tướng nhà Mạc là Mạc ngọc
Liễn, đánh đuổi một trận lấy được chiến thuyền kể hằng nghìn chiếc.
Mạc mậu Hợp
được tin quân mình thua to, bỏ thành Thăng-long
chạy sang Hải-dương về đóng ở kim-thành thuộc Hải-dương.
Trịnh Tùng ra đến Thăng-long, rồi sai Nguyễn thất Lý, Bùi văn Khuê
và Trần bách Niên sang đánh Mậu Hợp ở Kim-thành, lấy được vàng bạc của
cải nhiều lắm, và bắt được mẹ Mậu Hợp đem về.
Mạc mậu Hợp thấy quân mình thua luôn, bèn giao quyền chính-trị
cho con là Mạc Toàn rồi tự mình làm tướng đem quân đi đánh.
Bấy giờ quan nhà Mạc là bọn Đỗ Uông, Ngô Tạo, cả thảy 17 người
về hàng nhà Lê.
Trịnh Tùng sang đóng quân ở huyện Vĩnh-lại, rồi sai Phạm văn Khoái
đem quân đi đuổi đánh Mậu Hợp ở huyện Yên-dũng và huyện Vũ-ninh ( nay
là Vũ-giang ). Mạc mậu Hợp phải bỏ thuyền chạy lên bộ, vào ẩn trong cái
chùa ở huyện Phượng-nhỡn. Văn Khoái đuổi đến đấy, có người chỉ dẫn bắt
được
đem về Thăng-long, làm tội sống ba ngày, rồi chém đầu vào bêu ở
trong Thanh-hóa.
Bấy giờ có con Mạc kính Điển là Mạc kính Chỉ ở đất Đông-triều biết
tin Mạc mậu Hợp đã bị bắt, bèn tự lập làm vua, đóng ở huyện Thanh-lâm.
Con cháu họ Mạc hơn 100 người và các quan văn võ đều về đấy cả, rồi treo
bảng chiêu mộ quân-sĩ, chẳng bao lâu được sáu bảy vạn người. Mạc Toàn là
con Mạc mậu Hợp cũng theo về với Mạc kính Chỉ.
Trịnh Tùng thấy Kính Chỉ lại nổi lên, thanh thế to lắm, quan quân
đánh mãi không được, bèn đem quân sang đánh
ở huyện Cẩm-giang và
Thanh-lâm, bắt được Kính Chỉ và con cháu họ Mạc cùng các quan cả thảy
hơn 60 người.
Trịnh Tùng đánh được trận ấy, rồi về Thăng-long, sai quan vào rước
vua Thế-Tông ra Đông-đô, mở triều và thăng thưởng cho các tướng-sĩ.
Năm sau, tướng nhà Mạc là Mạc ngọc Liễn tìm được một người con
Mạc kính Điển là Mạc kính Cung lập lên làm vua, chiếm giữ châu Yên-bác ở
đất Lạng-sơn để làm căn-bản. Nhưng chẳng bao lâu quan Thái-úy là Hoàng
đình Ái đem binh lên đánh. Mạc kính Cung và Mạc ngọc Liễn phải chạy sang
Long-châu. Ít lâu Ngọc Liễn chết có để thư lại dặn Kính Cung rằng : "
Nay họ
Lê lại dấy lên được, ấy là số trời đã định; còn dân ta thì có tội gì, mà ta nỡ
để khổ sở mãi về việc chiến-tranh ? Vậy ta nên đành phận lánh mình ở nước
ngoài, chứ đừng có đem lòng cạnh-tranh mà lại mời người Tàu sang làm hại
dân nước mình
. "
Trung-hậu thay, mấy lời dạy lại của Mạc ngọc Liễn! Chỉ tiếc vì họ
Mạc không ai chịu theo!
Từ đó nhà Mạc mất ngôi làm vua, ngày sau tuy Mạc kính Cung nhờ
có nhà Minh bênh-vực được về ở đất Cao-bằng, nhưng cũng là ở một chỗ
nhỏ-mọn gần chỗ biên-thùy mà thôi.
Nhà
Mạc làm vua từ
Mạc
đăng Dung cho đến Mạc mậu Hợp là từ
năm đinh-hợi ( 1527 ) đến năm nhâm-thìn ( 1592 ) kể vừa được 65 năm.
Trịnh Tùng tuy đã lập được công to dứt được nhà Mạc, lấy lại được
đất Đông-đô, nhưng nhà Minh vẫn có ý bênh nhà Mạc không chịu nhận nhà
Lê. Và con cháu nhà Mạc hãy còn nhiều; nay xưng vương chỗ này, mai khởi
loạn chỗ khác, cho nên Trịnh Tùng phải một mặt dùng trí mà giữ cho nhà
Minh khỏi quấy nhiễu, và một mặt dùng lực mà đánh dẹp dư-đảng họ Mạc.
8. Việc Nhà Hậu-Lê Giao-Thiệp Với Nhà Minh.
Khi
Trịnh
Tùng đã thu-phục được thành Thăng-long rồi, người nhà Mạc sang kêu với
vua nhà Minh rằng họ Trịnh nổi lên tranh ngôi, chứ không phải con-cháu nhà
Lê.
Vua nhà Minh sai quan đến Nam-quan khám-xét việc ấy.
Tháng 3 năm bính-thân ( 1596 ) vua Thế-tông sai quan Hộ-bộ
Thượng-thư là Đỗ
Uông
và
quan
Đô-ngự-sử là Nguyễn văn Giai lên Nam-
quan tiếp quan Tàu. Sau lại sai hai ông hoàng-thân là Lê Cánh, Lê Lựu cùng
với quan Công-bộ
tả-thị-lang là Phùng khắc Khoan đem 10 người kỳ-mục,
100 cân vàng, 1,000 cân bạc, cái ấn An-nam Đô-thống-sứ của nhà Mạc và
cái ấn An-nam-quốc-vương của vua nhà Lê ngày trước, sang cho quan nhà
Minh khám. Nhưng quan nhà Minh lại bắt vua Thế-tông phải thân hành
sang hội ở cửa Nam-quan.
Trịnh Tùng sai Hoàng đình Ái, Nguyễn hữu Liêu đem một vạn quân
đi hộ giá, đưa vua sang phó hội. Sang đến nơi, quan nhà Minh lại đòi phải
nộp người vàng và ấn vàng như tích cũ, rồi không chịu đến hội. Vua chờ
lâu, không xong việc lại phải trở về.
Đến tháng tư năm sau, sứ nhà Minh lại sang mời vua Thế-tông lên
hội
ở Nam-quan. Triều-đình sai quan Thái-úy Hoàng đình Ái đem 5 vạn
quân đi hộ giá sang hội ở Nam-quan.
Đến khi xa giá về, Trịnh Tùng đem các quan đi
đón mừng rồi sai
Công-bộ tả-thị-lang Phùng khắc Khoan làm chánh-sứ, quan Thái-Thường tự-
khanh Nguyễn nhân Thiệm làm phó sứ, đem đồ lễ sang Yên-kinh cống nhà
Minh và xin phong.
Vua nhà Minh chỉ phong cho vua Thế-tông làm An-nam Đô-thống-
Sứ. Ông Phùng khắc Khoan dâng sớ tâu rằng : "
Đô-thống-sứ là chức cũ của
họ Mạc, chứ vua nước Nam là dòng dõi họ Lê, mà phong cho chức ấy thì
không xứng-đáng
" . Vua nhà Minh trả lời rằng : vẫn biết họ Lê không ví
như họ Mạc, nhưng lúc đầu mới phong hãy tạm cho chức ấy, rồi về sau sẽ
phong vương.
Ông Phùng khắc Khoan phải chịu mà về. Từ đó nhà Minh với nhà Lê
lại thông sứ như trước.
9. Con cháu nhà Mạc ở Cao-Bằng.
Từ khi Mạc mậu Hợp và
Mạc kính Chỉ bị bắt rồi, con cháu họ Mạc ẩn ở các nơi để mong đường khôi-
phục. Bấy giờ có Mạc kính Chương xưng làm Tráng-vương, chiếm-giữ
từ
huyện Đông-triều cho đến đất Yên-quảng.
Năm bính-thân ( 1596 ) Trịnh Tùng sai quan Trấn-thủ Hải-dương là
Phan Ngạn đánh bắt được Kính Chương.
Lại có người Mạc kính Dụng là con Mạc kính Chi chiếm-giữ đất Yên-
bắc ( Lạng-sơn ) xưng làm Uy-vương, nhưng cũng chẳng bao lâu bị quân họ
Trịnh bắt được.
Còn
Mạc kính Cung trước đã chạy sang ở Long-châu, sau lại về cùng
với đảng mình đánh phá ở đất Cao-bằng và đất Lạng-sơn. Trịnh Tùng sai
quan lên đuổi đánh, nhưng Mạc kính Cung sang kêu với nhà Minh, vua nhà
Minh cho đưa thư sang bắt nhà Lê phải để đất Cao-bằng cho con cháu họ
Mạc.
Nhà Lê bất-đắc-dĩ phải để đất Cao-bằng cho họ Mạc ở.
CHƯƠNG lll
Trịnh-Nguyễn phân tranh
1.
Họ Trịnh xưng chúa miền Bắc
2.
Họ Nguyễn xưng chúa miền Nam
1. Họ Trịnh Xưng Chúa Miền Bắc.
Từ khi Trịnh Tùng dứt được
họ Mạc, thu giang sơn lại cho nhà Lê rồi, mỗi ngày một kiêu hãnh, chiếm giữ
lấy quyền chính trị và lại hà hiếp nhà vua. Họ Nguyễn ở trong Thuận-hóa
thấy họ Trịnh chuyên quyền, cũng tự xưng độc-lập ở miền Nam, làm thành
ra Nam Bắc đôi nơi và gây nên sự chiến tranh rất là tàn-hại cho nước nhà.
Năm kỷ-hợi ( 1599 ) đời vua Thế-tông nhà Lê, Trịnh Tùng thu-xếp
xong việc thông sứ với nhà Minh, và đã chịu nhường đất Cao-bằng cho con-
cháu nhà Mạc rồi, trong nước đã yên dần, bèn tự xưng làm Đô-nguyên-súy
Tổng-quốc-chính Thượng-phu Bình-an-vương rồi
định lệ
cấp bổng cho vua
được thu thuế 1.000 xã, gọi là lộc thượng-tiến, cấp cho vua 5.000 lính để
làm quân túc-vệ. Còn những việc đặt quan, thu thuế, bắt lính, trị dân, đều
thuộc về họ Trịnh cả. Chỉ có khi nào thiết triều hay là tiếp sứ thì mới cần
đến vua mà thôi.
Từ đó về sau, họ Trịnh cứ thế tập làm vương, tục gọi là chúa Trịnh.
Uy
quyền họ Trịnh bấy giờ hống-hách như thế và các quan lại theo
về họ Trịnh cả. Giả-sử Trịnh Tùng có muốn dứt nhà Lê đi mà làm vua, thì
cũng không khó gì. Tuy vậy mà Trịnh Tùng không dám làm, là tại sao ? Tại
lẽ rằng ở phía Bắc sợ nhà Minh sinh sự lôi thôi, lại có họ Mạc còn giữ đất
Cao-bằng nhỡ có làm điều gì phản-trắc, thì e quân nghịch nổi lên lấy thù Lê
thảo Trịnh làm cớ.
Và
chăng mặt Nam còn có họ Nguyễn, thế-lực cũng chẳng kém-hơn
gì, mà lại có ý độc-lập
để tranh quyền với họ Trịnh. Chi bằng không lấy
nước cũng như lấy nước, không làm vua mà lại hơn vua. Vì bao giờ có phải
đi đánh-dẹp nơi nào, vẫn lấy lệnh thiên tử mà sai khiến mọi người, không ai
bắt-bẻ gì được. Bởi thế cho nên họ Trịnh đành chịu ngôi thứ nhì trong nước
mà giữ quyền cả nước.
2. Họ Nguyễn Xưng Chúa Miền Nam.
Nguyên khi xưa ông
Nguyễn Kim khởi-nghĩa giúp nhà Lê đánh nhà Mạc đi lấy được đất Thanh-
nghệ rồi , sau đem quân ra đánh Sơn-nam bị hàng tướng nhà Mạc nhà Mạc
là Dương chấp Nhất đánh thuốc độc chết, binh quyền giao cả lại cho rể là
Trịnh Kiểm để đánh giặc.
Ông
Nguyễn Kim có hai người con là Nguyễn Uông và Nguyễn
Hoàng cũng làm tướng lập
được nhiều công. Người anh là Nguyễn Uông
được phong là Lang-quận-công, người em là Nguyễn Hoàng được phong là
Thái-úy Đoàn-quận-công.
Nhưng vì Trịnh Kiểm sợ họ Nguyễn tranh mất quyền mình, bèn kiếm
chuyện mà giết Nguyễn Uông đi. Còn Nguyễn Hoàng cũng sợ Trịnh Kiểm có
ý ám hại, chưa biết thế nào mới cho người ra Hải-dương hỏi ông Nguyễn
bỉnh Khiêm. Ông ấy bảo rằng : "
Hoành-sơn nhất đái, vạn đại dung thân
"
nghĩa là một dãy Hoành-sơn
99
kia có thể yên thân được muôn đời.
Nguyễn Hoàng mới nói với chị
là
bà
Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho
vào trấn phía Nam.
Năm mậu-ngọ ( 1558 ) đời vua An-tông, Trịnh Kiểm mới tâu vua cho
Nguyễn Hoàng vào trấn
đất Thuận-hóa. Bấy giờ những người họ hàng ở
huyện Tống-sơn cùng những quân lính ở đất Thanh-nghệ nhiều người đưa
cả vợ con theo đi. Nguyễn Hoàng vào đóng ở Xã Ái-tử ( sau gọi là kho Cây-
khế ), thuộc huyện Đăng-xương, tỉnh Quảng-trị.
Nguyễn Hoàng là một người khôn-ngoan mà lại có lòng nhân-đức,
thu-dùng hào-kiệt, yên-ủi nhân-dân, cho nên lòng người ai cũng mến-phục.
Đến năm kỷ-tỵ ( 1569 ) ông ra chầu vua ở An-tràng. Qua năm sau
Trịnh Kiểm gọi quan tổng-binh ở Quảng-nam là Nguyễn bá Quýnh về giữ đất
Nghệ-an, và lại cho ông vào trấn cả đất Thuận-hóa và đất Quảng-nam. Lệ
mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm lụa.
Năm nhâm-thân ( 1572 ) nhân lúc Trịnh Kiểm mới mất, con là Trịnh
Cối và Trịnh Tùng đánh nhau, nhà Mạc đem quân vào đánh Thanh-hóa và
sai tướng là Lập Bạo đem một toán quân đi 60 chiếc thuyền, bởi đường hải-
đạo kéo vào đóng ở làng Hồ-xá và ở làng Lạng-uyển ( thuộc huyện Minh-linh
) để đánh Nguyễn Hoàng.
99
Núi Hoành Sơn là núi Đèo Ngang ở tỉnh Quảng Bình
Ông
mới sai một người con gái đẹp là Ngô-thị giả làm cách đưa vàng
bạc sang nói với Lập Bạo xin cầu hòa. Lập Bạo mừng rỡ, không phòng bị gì
cả, bị quân họ Nguyễn
đánh lẻn, bắt
được giết
đi, và đánh tan quân nhà
Mạc.
Năm quí-tị ( 1593 ) Trịnh Tùng đã lấy được thành Thăng-long, bắt
được Mạc mậu Hợp, nhưng mà đảng nhà Mạc còn nhiều, phải
đánh dẹp
nhiều nơi, Nguyễn Hoàng đưa quân-binh và súng-ống ra Đông-đô, ở hằng 8
năm, giúp Trịnh Tùng để đánh họ Mạc, lập được nhiều công to. Nhưng mà
Trịnh Tùng vẫn có ý ghen ghét không muốn cho ngài về Thuận-hóa, mà ngài
cũng không có dịp gì mà về được.
Năm canh-tý ( 1600 ) nhân vì họ Trịnh kiêu hãnh quá, các quan có
nhiều người không phục ; bọn Phan Ngạn, Ngô đình Hàm, Bùi văn Khuê khởi
binh chống lại với họ Trịnh ở cửa Đại-an ( thuộc Nam-định ), Nguyễn Hoàng
mới đem bản bộ tướng-sĩ giả cách nói đi đánh giặc, rồi theo đường hải-đạo
về Thuận-hóa.
Nguyễn Hoàng về Thuận-hóa rồi, sợ họ Trịnh nghi-ngờ, bèn đem
người con gái là bà Ngọc Tú gả cho Trịnh Tráng là con trai Trịnh Tùng. Ngài
ở giữ đất Thuận-hóa, cho người con thứ sáu vào trấn đất Quảng-nam dựng
ra kho tàng, tích-trữ lương thực.
Từ đấy trở đi, Nam Bắc phân-biệt, bề ngoài thì làm ra bộ hòa-hiếu,
nhưng bề trong thì vẫn lo việc phòng-bị để chống cự với nhau.
CHƯƠNG IV
Sự Chiến Tranh
1. Họ Trịnh đánh họ Mạc ở Cao Bằng.
2.
Nhà Thanh dấy nghiệp.
3. Tình thế họ Nguyễn ở miền Nam.
4.
Đánh nhau lần thứ nhất.
5.
Đánh nhau lần thứ hai.
6.
Đánh nhau lần thứ ba.
7.
Đánh nhau lần thứ tư.
8.
Đánh nhau lần thứ năm.
9.
Đánh nhau lần thứ sáu.
10. Đánh nhau lần thứ bảy.
1. Họ Trịnh Đánh Họ Mạc ở Cao Bằng.
Năm kỷ hợi (1599),
vua Thế Tông mất, Trịnh Tùng cùng với các quan triều thần lập hoàng tử là
Duy Tân lên làm vua, tức là vua Kính Tông. Qua năm sau (1600) bọn Phan
Ngạn, Ngô Đình Hàm và Bùi Văn Khuê nổi loạn ở cửa Đại An. Trịnh Tùng ở
Thăng Long sợ bốn mặt thụ địch, bèn rước vua vào Thanh Hóa.
Đảng họ
Mạc thấy thành Thăng Long bỏ không, bèn rước bà thứ
mẫu của Mậu Hợp là Bùi Thị về tôn lên làm quốc mẫu, rồi cho người lên đón
Mạc Kính Cung ở đất Cao Bằng.
Phan
Ngạn và Bùi Văn Khuê lại nghi ngờ nhau rồi giết lẫn nhau, còn
Ngô Đình Hàm thì về giúp nhà Mạc.
Trịnh Tùng đem Kính Tông vào Thanh Hóa rồi thu xếp ra lấy lại
Thăng Long, nhưng còn sợ mặt Thuận Hóa có biến chăng, bèn sai quan vào
ủy dụ Nguyễn Hoàng; đoạn rồi đem thủy bộ đại quân ra Bắc, đánh bắt được
Bùi Thị giết đi, còn Mạc Kính Cung bỏ chạy sang Kim Thành ở Hải Dương,
sau thấy đảng của mình thua cả, lại bỏ Kim Thành chạy lên Cao Bằng.
Trịnh Tùng lấy lại Thăng Long rồi sai quan vào rước vua ra, và sai
các tướng
đi tiễu trừ
đảng họ
Mạc
ở
mặt Thái Nguyên, Lạng Sơn và Yên
Quang.
Trịnh Tùng càng ngày càng kiêu hãnh quá, vua cũng không chịu
được, lại nhân họ Trịnh có con là Trịnh Xuân muốn ganh quyền với người
con trưởng là Trịnh Tráng, vua Kính Tông mới mưu với Trịnh Xuân để giết
Trịnh Tùng, nhưng chẳng may sự không thành. Trịnh Tùng bức vua phải
thắt cổ chết, và bắt Trịnh Xuân giam mấy tháng rồi tha.
Trịnh Tùng giết vua Kính Tông rồi, lập Hoàng Tử là Duy Kỳ lên làm
vua, tức là vua Thần Tông.
Năm quý hợi (1623) Trịnh Tùng đau, hội các quan lại giao binh
quyền cho con là Trịnh Tráng, và cho Trịnh Xuân làm phó.
Trịnh Xuân không bằng lòng, đem binh làm loạn,
đốt phá kinh
thành, Trịnh Tùng thấy biến, chạy về xã Hoàng Mai, vào nhà Trịnh Đỗ, rồi
cho gọi Trịnh Xuân đến bắt giết đi. Được mấy hôm Trịnh Tùng mất ở chùa
Thanh Xuân, thuộc huyện Thanh Trì.
Trịnh Tráng lên nối nghiệp làm chúa. Nhưng vì đảng Trịnh Xuân còn
làm loạn, cho nên mới đưa vua về Thanh Hóa. Vua phong cho Trịnh Tráng
làm Thái Úy Thanh Quốc Công, tiết chế thủy bộ chư quân.
Bấy giờ có Mạc Kính Khoan là cháu Mạc Kính Cung xưng làm Khánh
Vương ở đất Thái Nguyên. Trước đã bị quân họ Trịnh đánh phá mấy trận,
phải lên ẩn núp ở đất Cao Bằng, nay thâ"y người nhà họ Trịnh làm loạn, lại
đem quân vào đóng ở làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm. Nhưng chẳng bao lâu
Trịnh Tráng ở Thanh Hóa ra đánh. Kính Khoan lại phải chạy về Cao Bằng.
Trịnh Tráng dẹp yên đất Đông Đô, lại vào rước vua ra, và tự xưng
làm Nguyên Súy, Thống Quốc Chính Thanh Đô Vương, rồi sai con là Trịnh
Kiều đem quân lên đánh Cao Bằng (ất sửu 1625) bắt được Mạc Kính Cung
đem về giết đi. Mạc Kính Khoan thì chạy sang Tàu, rồi cho người về dâng
biểu xin hàng.
Triều đình phong cho Kính Khoan làm Thái Úy Thông Quốc Công, và
cho giữ đất Cao Bằng theo lệ cống tiến.
2. Nhà Thanh Dấy Nghiệp.
Khi Trịnh Tráng ở An Nam ta mới lên
nối nghiệp làm chúa và đang phải đánh dẹp họ Mạc ở đất Cao Bằng, thì ở
bên Tàu nhà Minh mất nước.
Nguyên
ở
xứ
đông bắc nước Tàu có một xứ
gọi là Mãn Châu, có
giống người Nữ Chân ở. Về đời nhà Tống người Nữ Chân đã lập nên một
nước lớn gọi là Kim, xưng đế được 120 năm, rồi bị nhà Nguyên lấy mất. Nhà
Nguyên đặt Vạn Hộ Phủ để cai trị đất Mãn Châu.
Sau nhà Minh dứt được nhà Nguyên, tuy ở Mãn Châu nhà Minh có
đặt vệ địa, nhưng mà người xứ ấy vẫn tự cai trị lấy.
Đất Mãn Châu bấy giờ chia làm bốn bộ:
1.
Mãn Châu Bộ (thuộc về Kiến Châu Vệ Địa)
2. Trường Bạch Bộ (thuộc về Kiến Châu Vệ Địa)
3.
Đông Hải Bộ (thuộc về Dạ Nhân Vệ Địa)
4. Hỗ Luân Bộ
(thuộc về Hải Tây Vệ Địa)
Về cuối đời nhà Minh, ở Trường Bạch Bộ có một người tên là Nỗ Nhĩ
Cấp Xích, tức là vua Thái Tổ nhà Thanh, đánh lấy tất cả đất bốn bộ, đóng
kinh đô ở Thẩm Dương, là Thịnh Kinh bây giờ.
Nỗ Nhĩ Cáp Xích mất, con lên nối nghiệp tức là Thanh Thái Tông.
Sau nhân được cái Truyền Quốc Tỉ của nước Tàu, Thái Tông mới cải quốc
hiệu là Đại Thanh.
Con Thái Tông tên là Phúc Lâm lên làm vua, tức là Thanh Thế Tổ,
đánh lấy được cả đất Liêu Tây của nhà Minh.
Khi tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế đang chống với quân nhà
Thanh
ở
Sơn Hải Quan thì Lý Tự Thành nổi lên vây đánh Yên Kinh. Vua
Trang Liệt nhà Minh gọi Ngô Tam Quế về cứu, nhưng về đến nửa đường,
Tam Quế được tin Yên Kinh đã thất thủ, Trang Liệt Đế và Hoàng Hậu đã bị
giết, Tam Quế lại trở về Sơn Hải Quan.
Lý Tự Thành cho người gọi Tam Quế về hàng, Tam Quế không về.
Tự Thành đem quân đến đánh Sơn Hải Quan. Tam Quế xin hàng nhà Thanh
để lấy binh về đánh Tự Thành.
Lý Tự Thành đánh thua, phải bỏ Yên Kinh mà chạy, quân nhà Thanh
vào giữ Yên Kinh rồi dời kinh sư về đó.
Các quân cựu thần nhà Minh lập Phúc Vương lên làm vua ở Nam
Kinh, nhưng sau vì các tướng không hòa với nhau, Phúc Vương phải ra hàng.
Phúc Vương hàng Thanh rồi, Đường Vương xưng đế ở Phúc Châu,
chẳng bao lâu cũng bị bắt, phải nhịn ăn mà chết.
Dòng dõi nhà Minh là Quế Vương xưng đế ở đất Triệu Khánh (thuộc
tỉnh Quảng Tây) được mấy năm, bị quân nhà Thanh đến
đánh, phải chạy
sang Diến Điện. Vua Diến Điện bắt Quế Vương nộp cho Ngô Tam Quế. Tam
Quế đem giết đi. Từ đấy nhà Thanh nhất thống nước Tàu.
Khi Quế vương xưng đế ở đất Quảng Tây, có ý muốn nhờ An Nam
cứu viện, cho nên mới phong cho vua Thần Tông nhà Lê làm An Nam Quốc
Vương và phong Trịnh Tráng làm phó vương.
Khi ấy ở phía bắc nước Tàu đang loạn, họ Mạc thì đã về hàng, Trịnh
Tráng mới nhân dịp quyết ý đi đánh họ Nguyễn ở phía nam.
3. Tình Thế Họ Nguyễn ở Miền Nam.
Từ khi Nguyễn Hoàng
về Thuận Hóa rồi, bề ngoài tuy vẫn chưa ra mặt chống với họ Trịnh, nhưng
bề trong thì hết sức lo sợ phòng bị. Xem như
năm quý sửu (1613), khi
Nguyễn Hoàng sắp mất, gọi người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên vào
dặn rằng: "Đất Thuận, Quảng này bên bắc thì có núi Hoàng Sơn, sông Linh
Giang, bên nam thì có núi Hải Vân và núi Bi Sơn thật là một nơi trời để cho
người anh hùng dụng võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân
sĩ để mà gây dựng cơ nghiệp về muôn đời." Xem lời ấy thì biết họ Nguyễn
đã có ý muốn độc lập để chống với họ Trịnh.
Khi
ở ngoài Bắc, Trịnh Tùng mất, chúa Sãi là ông Nguyễn Phúc
Nguyên bảo các quan rằng: "Ta muốn nhân dịp này mà ra đánh họ Trịnh,
nhưng hiềm vì công việc chưa xong, vậy thì hãy sai người ra phúng điếu,
trước là cho phải cái nghĩa hôn nhân với nhau, sau là nhân thể xem tình ý
ngoài Bắc ra thế nào."
Bấy giờ ở miền Nam lại có những người tôi giỏi giúp rập như các ông
Nguyễn Hữu Dật, ông Đào Duy Từ,
Hồ Thành Tín (Theo Trần Trọng Kim) |