Tổ tiên họ HỒ
23.03.2008 13:02
Tổ tiên Họ Hồ là Nguyễn tổ Hồ Hưng Dật, vốn người tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc thời hậu Hán Ngũ Quí sang làm Bắc Quốc Trạng Nguyên Thái Thú Diễn Châu ( Nghệ An), sau dời đến hương Bào Đột( làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An), rồi làm trại chủ.
Từ đời thứ II đến đời thứ XI không chấp nối thế thứ được. Đời XII,
ngài Hồ Liêm dời đến hương Đại Lại ( Hà Đông, Hà Trung,Thanh Hoá).
Cháu 4 đời của Hồ Liêm là Hồ Quí Ly lập nên triều đại nhà Hồ (1400 -
1407).Hồ Liêm là thái thuỷ tổ họ Hồ Thanh Hoá.
Một nhánh họ Hồ khác
sinh sống tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An là ngài
Hồ Kha, đời thứ XIII.Ngài Hồ Kha có hai con, con trưởng là Hồ Hồng,
con thứ là Hồ Cao. Hồ Hồng làthuỷ tổ họ Hồ Quỳnh Đôi. Hồ Cao là
thuỷ tổ họ Hồ Tam Công làng Qui Trạch, Yên Thành tỉnh Nghệ An.
Hồ Hồng có hai trai: Hồ Hân và Hồ Hữu Nhân sinh sống tại Quỳnh Đôi.
Sau đó Hồ Hồng tham gia quân đội chỉ huy hơn 2000 lính vào trấn thủ Tân
Bình - Thuận Hoá. Tại tân Bình ông còn ngôi lăng mộ nguy nga. Tại Thuận
Hoá, ông có vợ và con cháu sinh sống đông đúc tại 2 phủ Tân bình và
Thuận Hoá.Hồ Hồng là thuỷ tổ Họ Hồ An Cưu , An Truyền huyện Phú Vang
– Thừa Thiên và là thỉ tổ họ Hồ làng Cẩm Sa, xã Điện Nam, huyện
Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
Hồ Hân và bà chánh thất Hoàng Thị Xạ sinh hai con trai. Con trưởng là
Hồ Ước lể, con thứ là Hồ An; với bà kế thất sinh Hồ Hưởng Phúc
(sinh sống tại làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu) tại làng Thượng Yên.
Con cháu của ngài Hồ Hân rất phát triển nổi bậc là Hồ Phi Phúc sinh
3 anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguễyn Lữ, nữ sĩ Hồ
Xuân Hương; 3 trạng nguyên : Hồ Sĩ Đống, Hồ Phi Tích, Hồ sĩ Tôn; tể
tướng Hồ Sĩ Dương; các tiến sĩ Hồ Ước Lễ, Hồ Sĩ Tân, Hồ Doãn Hài,
Hồ Trọng Kỳ, Hồ Sĩ Tuấn….
Đời Lê Trang Tông, Nguyễn Hoàng được phong tước Đoan Quận Công. Hiểu ý
câu nói của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “ hoành sơn Nhất Đai, Vạn Đai
Dung thân” và theo lời khuyên của cậu là Nguyễn Ư Kỷ,ngài nhờ chị là
Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hoá.
Năm Mậu Ngọ (1558) Nguyễn Hoàng đem những người đồng hương huyện Tống
Sơn, tỉnh Thanh Hoá:Nguyễn Ư Kỷ, Nguyễn Dương, Trương Phúc Gia, Tống Hữu
Sĩ. Nguyễn Đức Tráng và 1000 nghĩa dũng tỉnh Thanh Hoá vào trấn thủ
Thuận Hoá, vào đóng quân tại Ai Tử huyện Vũ Xương ( Quảng Trị)
Hồ Minh có mặt trong đoàn nghĩa dũng đất Thanh Hoá. Ngài Hồ Minh
là hậu duyệt của tổ Hồ Liêm – thái thỉ tổ họ Hồ Thanh Hoá tổ 4 đời
của hoàng đế Hồ Quí Ly.
Ngài Hồ Minh có khám
thờ và hài vị thờ tại miếu ông làng Nguyệt Biều. Bài vị đế “Hồ
Minh đại lang, tiến sĩ Tùng Tiên Vương nhập nam và hứa thực biệt
ban Nguyệt Biều”
Đệ nhất thế thỉ tổ: Hồ Minh
Đệ nhị thế tổ: Ông thuật Hồ Đình Thám
Đệ tam thế tổ: Ông thái Hồ Đình Tú
Đệ tứ thế tổ: Ông chữ Hồ Đình Ỷ
Đệ ngủ thế có 6 dánh. Hiện nay có hai dánh.Dánh I Thỉ tổ là ngài
Hồ Đình Câu. Dánh II là ngài Hồ Quang Đội.
Đệ lục thế tổ: Hồ Quang Đại
Hồ Quang Đại đổ thủ khoa khoa thi chính năm Nhâm Thìn (1652). Ngài được
bổ vào Văn Chức Viện tại Chính Dinh ( 1652). Năm Thái Tông thứ VIII
(1656) được trao chức tri huyện Phú Vang. Năm Thái Tông thứ XI (1659)
được Thăng làm tri phủ Thăng Hoa ( Quảng Nam + Quảng Ngãi). Năm 1667 được
triệu về Chính dinh phong làm phụ chính đi duyệt tuyển các
phủ huyện. Các tờ sắc cấp cho Hồ Quang Đại hiện thờ tại miếu ông
làng Nguyệt Biều cho biết:
- Năm 1667 duyệt tuyển huyện Tuy Viễn, phủ Qui Ninh
- Năm 1668 duyệt tuyển huyện Phù Ly, phủ Qui Ninh
- Năm 1669 duyệt tuyển huyện, phủ Diên Ninh, Phủ Phụng Khương
- Năm 1669 duyệt tuyển huyện, Huyện Tuy Viên, Phủ Qui Ninh
- Năm 1669 duyệt tuyển huyện, huyện Gia Môn,Phủ Qui Ninh
- Năm 1670 duyệt tuyển huyện, huyện Bồng Sơn, Phủ Qui Ninh
- Năm 1671 duyệt tuyển huyện, huyện Tuy Viễn, Huyện Phù Ly
Phủ Qui Ninh nay là tỉnh Bình Định, phủ Diên Ninh nay là Ninh Hoà, Phủ
Phụng Khương sau đổi là Thái Khương nay là Tỉnh Khánh Hoà.
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn ghi: Đến đời chúa Hiền ( Nguyễn Phúc
Tần ), việc đo đạc mới chu đáo hơn và các ruộng đất cùng ngạch thuế
được ấn định rõ ràng. Năm kỷ dậu 1669 sai dân thần là Hồ Quang Đại
chia nhau đi đo đạc những ruộng đất cày cấy của các xã dân các hạng.
Năm 1672 ngài Hồ Quang Đại được cử làm Thi Giảng Tri Kinh Diên cho chúa
Nghĩa ( Nguyễn Phúc Trăn ) và cho chúa Minh ( Nguyễn Phúc Chu ) chết
được tặng Quốc Sư.
Hồ Quang Đại được thơ tại Miếu Ông của làng Nguyệt Biều. Ngài cũng
được thờ tại miếu ngài Hồ tại làng Hương Cần và thờ tại đình chính
làng Hương Cần và thờ tại đình chính làng hương Cần. Ngài còn được
phong làm thành hoàng làng Hương Cần, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Bài vị thờ Hồ Quang Đại tại Miếu Ông, làng Nguyệt Biều :”Nhâm Thìn
niên Thi Trúng Giám Sinh Thủ Khoa, Thị Giảng , Phụ Chính An Biên, Phước
Đức Quốc Sư Hồ Quí công Thần Vị”
Tại miếu ngày Hồ , làng Hương Cần, bài vị ghi: “ Nhâm Thìn khoa, trực
Thủ Khoa, Phước Đức Tôn Thần”.năm Đinh Tỵ triều Khải Định , bài vị
sửa lại là: Dực Bảo Trung Hưng linh phò Bổn Thổ Thần Hoàng, Hồ Qui
công Tôn Thần”
Tại đình chính làng Hương Cần, nghi văn thờ Hồ Quang Đại ghi:”
Bổn Thổ thành hoàng Hồ Thiện Phước Đức Quí Công”.
Ngài Hồ Quang Đại lấy bà chánh thất Phan Thị Do sinh 7 con trai và 2
con gái sinh sống tại làng Nguyệt Biều, con cháu chia 4 phái:
- Phái nhất: Hồ Quang Tài
- Phái nhì: Hồ Quang An
- Phái ba: Hồ Quang Đôn
- Phái tư: Hồ Quang Tằng
Ngài Hồ Quang Đại còn có bà thứ thất sinh 7 trai, sinh sống tại làng
Hương Cần, Hương Trà, Thừa Thiên hiện nay còn đủ 7 phái:
- Phái Tống Hồ thỉ tồ là Hồ Văn Duyên
- Phái Hồ Tống thỉ tổ là Hồ Tống Học
- Phái Hồ Đức thỉ tổ là Hồ Đức Lang
- Phái Hồ Đăng thỉ tổ là Hồ Đăng Văn
- Phái Hồ Công thỉ tổ là Hồ Văn Nê
- Phái Hồ Hữu thỉ tổ là Hồ Hữu Đường
- Phái Hồ Văn thỉ tổ là Hồ Văn Đệ.
Con cháu họ Hồ nhiều người hiển đạt.
· tại Nguyệt Biều các ngài sau:
1. Hồ Quang Đại, Phước Đức Quốc Sư, Đức Xuyên Tử
2. Hồ Quang Ân, tri phủ, Ân Nghĩa Tử
3. Hồ Quang Tuyên, tri phủ, Tuyên Đức Hầu
4. Hồ Quang Đôn, tước Đòn Minh Nam
5. Hồ Quang Thanh, tri huyện, Tước Thuần Nam
6. Hồ Quang Anh, thư Đội Trưởng, Diễn Tài Bá
7. Hồ Hữu Thẩm, Bố Chánh Sứ, An Sát Sứ, Quản Nội Vụ, Thẩm Thận Hầu.
8. Hồ Quang Ngôn, Tham Luận, Ngôn Đức Hầu
9. Hồ Quang Châu, Tham Mưu, Châu Thành Hầu
10. Hồ Quang trực, Trực Thiện Hầu
11. Hồ Xuyên, Quản vụ Thái Giám
12. Hồ Hữu Hoa, Phó Quản Cơ
13. Hồ Thị Ý Nhi, Cung nhân vua Thiện Trị, mẹ công chúa Đồng Xuân
14. Hồ Thị Hoa, cung nhân vua Thiện Trị
15. Hồ Xuân Bàng, Đốc sự Thượng Hạng, Nha Tài Chính, Giám Sự Chuyên Môn
Nha Thông Tin Trung Việt, Nhà Cách Mạng dưới chính quyền đệ nhất Cộng
Hoà.
16. Hồ Xuân Anh, Thư Ký Sở Thuỷ Lâm Huế. Trung Tướng quân đội Nhân Dân
Việt Nam. Trưởng phái đoàn mặt Trận Giải Phóng Miền nam tham dự phái
đoàn quân sự 04 bên tại Tân Sơn Nhấttrước chiến dịch Hồ Chí Minh giải
phóng Miền Nam. Đại Sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Cộng Hoà An Độ, Cu Ba.
· CON CHÁU HỌ HỒ LÀNG HƯƠNG CẦN
1. Hồ Văn Mai, Chưởng Dinh, Mai Đức Hầu
2. Hồ Văn Chữ, Chánh Đề Đốc
3. Tống Hồ Thụ, Đô Chỉ Huy Sứ, Nguyên Ninh Hầu
4. Tống Hồ Phái, Đội Trưởng, Phái Diễn Hầu
5. Tống Hồ Tín, Đội Trưởng, Tín Thành Hầu
6. Tống Hồ Ban, Đội Trưởng, Tước Ban Tài Hầu
7. Tổng Hồ bảng, Thứ Đội Trưởng,Bản Trung Bá
8. Tống Hồ Thị Đặng, Hiếu Minh Hoàng Hậu
9. Tống hồ Nhạc, Thứ Đội Trưởng, Nhạc Sơn Hầu
10. Tống Hồ Khánh, Thứ Đội Trưởng , Khánh Long Hầu
11. Tống Hồ Yến, Trấn Biên Doanh Lưu Thủ Cai Cơ, Yến Dực Lầu
12. Tống Hồ Hoà, Đội Trưởng, Tước Hoà Khánh Hầu
13. Tống Hồ Giao, Vọng Các Công Thần, Cai Cơ, Giao Đức Hầu
14. Tống Hồ Đạm, Vọng Các Công Thần, Giám Quân Trung Dinh, Tước Tuấn Nghĩa
Hầu.
15. Tống Hồ Đàm, Cai Đội Tuấn Vũ Hầu
16. Tống Hồ Đạo, Cai Đội, Tước Đạo Đức Hầu
17. Tống Hồ Anh,Cai Cơ
18. Tống Hồ Thanh, Thiếu Sư, Tước Tôn Nghĩa Hầu
19. Hồ Công Kính, Tước Kính Đức Hầu
20. Hồ Tống Dánh, Thượng Tướng
21. Hồ Đăng Phong, Tham Tri, Cử Nhân Hương Thí
22. Hồ Văn Thông, Quản Cơ, Cử Nhân Võ.
(Theo bác Hồ Xuân Thiện)
Hồ Thành Tín (Theo Sưu tầm) |